Trên đỉnh sầu – E.Cioran

images

1.

Chân lý bất khả

 Khi nào ta bắt đầu hạnh phúc? Khi ta đã tự vỗ về mình: chân lý không tồn tại. Tất cả sự cứu rỗi đến từ lúc ấy, ngay cả sự cứu rỗi bởi hư vô. Kẻ chẳng tin vào tính bất khả của chân lý, hoặc chẳng hân hoan vì điều này, chỉ có duy nhất một phương cách cứu rỗi, song, lại chẳng bao giờ tìm thấy.

2. Con người

Con người nên thôi hay trở thành một con vật lý trí. Hắn nên trở thành một người điên, mạo hiểm tất thảy cho những mộng mơ liều lĩnh, cho những khả thể hoan lạc, sẵn sàng chết cho mọi thứ có hay không có nơi cõi đời này. Tâm thức mỗi người nên ngưng là một con người. Điều ấy chỉ có thể đạt đến qua sự tự do tuyệt đối.

3. Vẻ đẹp của những ngọn lửa

Vẻ đẹp của những ngọn lửa nằm ở trò chơi dị thường của chúng, vượt qua tất cả sự cân xứng và hài hòa. Ánh lửa mơ hồ biểu trưng đồng thời cho ân sủng và thảm kịch, chất ngây thơ và niềm tuyệt vọng, nỗi buồn và khoái lạc. Sự trong suốt mãnh liệt của chúng mang tính soi rọi của những cuộc thanh tẩy vĩ đại. Tôi ước ao cái siêu việt bỏng cháy nâng tôi lên và ném tôi vào biển lửa, nơi, tôi bị thiêu rụi bằng những cái lưỡi nhạy cảm và giảo quyệt của chúng, tôi sẽ chết một cái chết đê mê ngây ngất. Vẻ đẹp của những ngọn lửa sinh ra ảo giác về một cái chết cao cả, thanh khiết, giống như ánh hừng đông. Có tính phi vật chất, cái chết trong những ngọn lửa tương tự như sự bốc cháy của những đôi cánh thanh thoát, tao nhã. Có phải chỉ những cánh bướm mới chết trong những ngọn lửa? Sẽ ra sao, những thứ bị thiêu đốt bằng muôn ngọn lửa ở bên trong mình?

4.

Tôi không biết

Tôi không biết cái gì là đúng, cái gì là sai; cái gì được chấp thuận còn cái gì thì không; tôi không thể phán xử và không thể tán tụng. Không có tiêu chuẩn vững chắc và những nguyên lý bất dịch trong thế giới này. Tôi kinh ngạc khi một số người vẫn còn bận tâm đến lý luận nhận thức. Nói thật, tôi không quan tâm đến tính tương đối của nhận thức, đơn giản vì thế giới này không đáng để được biết. Có những khi tôi cảm thấy dường như mình đã thấu suốt, hiểu rốt ráo nghĩa lý của thế giới này; và có những lúc khác, thế giới quanh tôi lại hoàn toàn vô nghĩa. Mọi thứ rồi nhuốm vị đau đớn, trong tôi ngập tràn nỗi đắng cay ghê tởm, hiểm độc khiến ngay cả cái chết cũng thành ra nhạt nhòa. Giờ đây, lần đầu tôi nhận ra sự cay đắng này mới khó định nghĩa làm sao. Có lẽ, tôi chỉ tốn thời giờ vô ích để xác lập nền tảng luận lý cho nó, trong lúc thực ra, nở khởi nguồn từ địa hạt tiền luận lý. Vào thời khắc này, tôi không còn tin vào điều gì và tuyệt cùng không hy vọng. Tất cả hình thái và biểu hiện đem đến cho đời sống sức mê hoặc, với tôi dường như vô nghĩa. Tôi chẳng còn chút cảm xúc nào cho tương lai hoặc cho quá khứ, trong khi hiện tại là liều thuốc độc cho chính thân tôi. Tôi không biết liệu tôi có tuyệt vọng hay không, bởi thiếu hy vọng không hàm chứa niềm tuyệt vọng. Tôi có thể được gọi là bất cứ thứ gì vì tôi chắc mẩm chẳng gì mất mát. Tôi đã mất tất cả mọi thứ! Những bông hoa đang bung nở và đàn chim cất tiếng hót khắp chốn quanh tôi. Tôi xa lạ làm sao với mọi thứ trên đời!

5.

Tất cả là cát bụi

Có nhiều lý do để cự tuyệt đời sống đến nỗi không thể liệt kê đủ đầy: sự tuyệt vọng, cái chết, và vô cùng tận những thứ khác. Song, cũng có ngần ấy những nguyên nhân chủ quan, nội tại, bởi, chỗ liên đới với đời sống, chẳng có đúng hay sai, chỉ thuần là những phản ứng tự phát riêng ta. Ai đó có thể gọi nó là thuyết duy chủ thể. Nó ra sao? Há chẳng phải chủ thể tính mạnh mẽ là con đường để đạt đến tính phổ quát, giống như kẻ chạm đến cái vĩnh cửu thông qua từng khoảnh khắc? Con người quá ít quý trọng sự cô độc! Họ kết tội tính vô ích của mọi thứ nó mang đến và chỉ tán dương những giá trị xã hội, bởi họ mê cuồng ảo tưởng đã tham gia vào quá trình tạo tác của họ. Tất thảy bọn họ khao khát những thành tựu vĩ đại, mà qua đó, họ hy vọng đạt đến sự bất tử. Như thể, họ sẽ không vỡ vụn thành cát bụi!

Tôi bất bình với mọi thứ. Nếu họ tôn tôi làm Chúa, tôi sẽ lập tức thoái vị, và nếu thế giới chỉ còn tôi, tôi sẽ tự chia tách mình, vỡ tung thành nhiều mẩu nhỏ, và biến mất. Làm sao có những thời khắc mà tôi cảm thấy như thể mình đã thấu suốt?

6.

Tất cả thật xa vời

Tôi không hiểu tại sao ta phải làm mọi sự trên cõi đời này, tại sao ta phải có những người bạn và khao khát, hy vọng và những giấc mơ. Có tốt hơn chăng khi ẩn mình vào một xó xỉnh xa xôi nào đó của thế giới, nơi, chẳng còn nghe thấy tất cả những ồn ào và rắc rối? Rồi kế tiếp, ta có thể khước từ văn hóa và những tham vọng; ta sẽ bỏ qua tất thảy và chẳng kiếm được gì; bởi, có cái gì kiếm được từ cõi đời này? Có những người mà với họ, việc kiếm được chẳng hề quan trọng, những người vô cùng bất hạnh và cô đơn. Chúng ta quá khép mình với người khác! Tuy nhiên, có phải ta lại hoàn toàn mở lòng với người kia, tìm vào sâu thẳm đáy hồn ta, ta sẽ thấy số phận của mình sâu đến đâu? Chúng ta cô đơn trong cõi đời này đến nỗi ta phải tự hỏi mình: sự cô đơn của trạng thái hấp hối chẳng phải là một biểu tượng của kiếp người. Có thể có bất kỳ an ủi nào trong thời khắc cuối cùng đó? Sự sẵn lòng để sống và chết trong xã hội là một chỉ dấu của sự kém cỏi khủng khiếp. Sẽ lý thú hơn ngàn lần để chết ở nơi nào nào đó hoang liêu, lặng vắng, để chết với dáng điệu không bi thiết và chẳng ai chứng kiến. Tôi khinh miệt những kẻ trên giường chết tự sửa soạn và lựa chọn dáng điệu để gây nỗi xúc động. Những giọt nước mắt không bùng vỡ, ngoại trừ, trong sự cô độc. Những kẻ muốn được bạn bè vây quanh khi mình chết tỏ bày sự khiếp sợ và bất lực để sống những thời khắc cuối cùng trong cô đơn. Họ muốn quên đi cái chết ngay trong thời khắc của cái chết. Họ không có cái anh hùng tính vô bờ bến. Tại sao họ không khóa cửa và chịu đựng những cảm giác mãnh liệt ấy với một sự minh mẫn và nỗi sợ thậm vượt mọi giới hạn?

          Chúng ta quá cô lập với mọi thứ! Nhưng đồng thời, phải chăng mọi thứ không thể tiếp cận với ta? Cái chết thẳm sâu và đơn thuần nhất là cái chết trong đơn độc, khi, ngay cả ánh sáng cũng trở thành nguồn cội của cái chết. Trong những thời khắc như thế, bạn sẽ được tách khỏi sự sống, tình yêu, những nụ cười, những người bạn và ngay cả cái chết. Và bạn sẽ tự nhủ liệu có gì chăng ngoài cái hư vô của thế giới và của chính mình.

7.

Về sự hóa thể của ái tình

Tính phi lý điều khiển sự nảy nở của ái tình. Những cảm giác của sự tan rã  cũng luôn hiện hữu, bởi ái tình là một dạng thức của sự thân mật và chẳng điều gì biểu hiện nó tốt hơn bằng những ấn tượng chủ quan của sự tan rã, sự vượt thoát khỏi những chướng ngại của bản thể. Chẳng phải ái tình vừa riêng tư lại đồng thời phổ quát? Sự thân mật thật sự chỉ có thể đạt đến thông qua một cá thể. Tôi yêu một người nào đó, nhưng từ lúc nàng là biểu trưng cho mọi vật, tôi dự phần vảo bản chất của mọi vật, một cách ngây thơ, vô thức. Tính phổ quát của ái tình tiền giả định nét riêng biệt của đối tượng yêu;  cá thể là một khung cửa sổ cho cái toàn thể. Sự ngợi ca ái tình phát sinh từ sự gia tăng tính phi lý của tình ái lên đến cực điểm. Tất cả tình yêu tuyệt đích là một chóp đỉnh mà tình dục không thể quy giản. Tình dục cũng có những chóp đỉnh vô song của nó. Tuy nhiên, dù không thể hình dung tình yêu thiếu vắng tình dục, hiện tượng lạ thường mà ta gọi là tình yêu thay thế tinh dục từ trung tâm của ý thức. Ám ảnh được thanh tẩy, người tình đạt đến sự tinh diệu của cả cái siêu nghiệm và sự thân mật khiến tình dục rất ít, nếu không là, ít tính chủ quan nhất. Không có sự hòa hợp tinh thần giữa những phái tính, chỉ là một sự biến hình của nhục thể qua điều mà một tình nhân khẳng nhận với người tình của mình, đến độ tạo nên một ảo ảnh tinh thần. Chỉ đến lúc ấy, cảm giác tan rã mới xâm lấn: xác thịt rung rẩy với sự co thắt tột độ, không còn sự kháng cự, bùng cháy với ngọn lửa nội tại, tan rã và trôi chảy, dòng dung nham không thể ngừng nghỉ.

8.

Gánh nặng của nỗi muộn phiền

Có những nỗi muộn phiền nào khác ngoài cái chết? Chắc chắn là không, vì nỗi muộn phiền thật sự luôn tăm rối, thiếu sự quyến rũ, và không chút mơ mộng. Có sự chán nản kinh khủng trong nỗi muộn phiền hơn trong niềm sầu mộng, và nó khiến người ta chán ghét cuộc đời, để đến với niềm tuyệt vọng sâu xa. Chỗ khác biệt giữa sự phiền muộn và nỗi khổ là: cái trước bị chế ngự bởi sự phản chiếu trong khi cái sau bị chi phối bởi tính vật chất tai hại của cảm giác. Cả hai chỉ dẫn tới cái chết, không khi nào là ái tình hay sự ngợi ca tình ái. Ái tình nghĩa là sự sống không khoan nhượng trong cái thiết yếu thăm thẳm của đời sống – thứ mang đến sự trinh trắng cốt tủy của bất kỳ trải nghiệm tình ái nào – kiến tạo nên ảo ảnh của tự do. Trái lại, buồn rầu hay phiền muộn, có nghĩa là không thể tham gia trực tiếp và cơ hữu vào sự chảy trôi của đời sống. Nỗi buồn cũng như sự phiền muộn phác lộ cho ta sự hiện hữu, bởi chỉ thông qua chúng ta mới tìm thấy ý thức về sự tách biệt của mình với thế giới khách thể, nỗi âu lo ấy ban tặng đường nét bi thảm lên cuộc hiện hữu của ta.

9.

Về sự có thực của thân xác

Tôi không bao giờ hiểu tại sao nhiều người lại gọi thân xác là một ảo tượng, cũng như tôi không bao giờ hiểu nổi làm thế nào họ có thể tưởng tượng cái tinh thần nằm ngoài những biến động của đời sống, với tất cả những mâu thuẫn và thiếu sót của nó. Hẳn là họ chưa bao giờ có ý thức về xác thịt, các dây thần kinh, từng bộ phận bên trong nó. Nhưng, lúc không hiểu nổi sự thiếu hụt nhận thức này, tôi lại tin rằng đấy là điều kiện tiên quyết để hạnh phúc. Những người đó vẫn bị trói buộc vào cái phi lý tính của đời sống, và vẫn bị lôi cuốn bởi những nhịp hữu cơ trước khi hình thành nhận thức, không biết trạng thái mà trong đó, sự có thực của thể xác luôn hiện hữu trước ý thức. Sự hiện diện này biểu thị bệnh sống cố hữu. Há nó chẳng phải là một căn bệnh liên tục được thức nhận qua dây thần kinh, đôi chân, dạ dày, trái tim của bạn, những phần riêng rẽ trong sự hiện tồn của bạn? Với nhận thức này, hẳn sẽ không có bộ phận nào từ bỏ những chức năng thông thường? Sự có thực của thể xác là một trong những thực tế kinh khủng nhất. Tinh thần sẽ ra sao nếu thiếu vắng sự dày vò của thể xác, và cả ý thức, nếu không có những cảm giác mãnh liệt? Làm sao có thể hình dung đời sống mà không có thân thể, như một hiện hữu tự do và vô điều kiện của tinh thần? Chỉ những kẻ khỏe mạnh và vô trách nhiệm, những kẻ chẳng có tinh thần mới nghĩ được như thế. Tinh thần là đứa con đẻ của một căn bệnh sống, và Con người là một con vật bệnh. Tinh thần trong đời sống là một thứ dị thường. Tôi đã từ bỏ rất nhiều, sao tôi chẳng chối từ luôn cả tinh thần? Tuy nhiên, so với căn bệnh của đời sống, sao không khước từ trước nhất căn bệnh của tinh thần?

10.

Một con vật gián tiếp

 

Tất thảy con người có cùng một nhược điểm: họ chờ để sống, bởi họ không có cái dũng khí của mỗi khoảnh khắc. Sao không dành đủ đam mê cho từng khoảnh khắc để biến nó thành vĩnh cửu? Chúng ta biết sống chỉ khi ta không còn trông đợi vào bất cứ điều gì, bởi ta không sống hết mình trong thực tại mà sống trong một tương lai xa xăm, mơ hồ. Ta không nên chờ đợi bất cứ điều gì ngoài những thúc giục trực tiếp của từng khoảnh khắc. Ta nên chờ đợi mà không cần ý thức về thời gian. Chẳng có sự cứu rỗi nào thiếu vắng cái trực tiếp. Nhưng con người là một hữu thể không còn biết đến cái trực tiếp. Hắn là con vật gián tiếp.

 11.

Chủ thể tính

 

Với những kẻ bị tước niềm tin, sự tới hạn của chủ thể tính dẫn đến chứng hoang tưởng hoặc sự tự phỉ báng, cả chứng tự yêu mình hoặc tự căm thù mình thái quá. Ở mỗi khuynh hướng, bạn thể nghiệm sự siêu vượt thời gian. Chủ thể tính biến bạn, hoặc thành Chúa hoặc thành quỷ dữ.

 12.

Tóm lại, tình yêu

Tình yêu của con người khởi nguồn từ nỗi đau, giống như sự thông thái bắt đầu từ điều bất hạnh. Trong cả hai trường hợp, gốc rễ đã mục rữa và cội nguồn đã hư hoại. Chỉ dòng chảy tình yêu thanh thoát cùng lòng cao thượng và sự xả thân mới có thể đắp bồi cho tâm hồn người khác. Tình yêu sinh ra trong nỗi đau, ẩn chứa quá nhiều giọt lệ và tiếng thở dài, song không vấy bẩn bởi niềm cay đắng. Có quá nhiều đau khổ, sự quên mình và âu lo trong thứ tình yêu ấy bởi nó chẳng là gì khác, ngoài lòng độ lượng vô hạn. Bạn tha thứ tất thảy, bạn chấp nhận mọi điều, bạn biện hộ mọi sự. Nhưng đó có còn là tình yêu? Làm sao có thể yêu khi bị tẩy trừ khỏi mọi sự. Loại tình yêu này phác lộ sự trống rỗng của một linh hồn lơ lửng giữa toàn thể và hư vô, như việc trở thành Don Juan là phương thuốc duy nhất cho một trái tim tan vỡ. Đạo Thiên Chúa, nó không biết đến tình yêu: nó chỉ biết lòng độ lượng hay lòng thương cảm, những ám chỉ đến tình yêu hơn là tự thân tình yêu.

 13.

Cái thiếu thốn của sự thông thái

 

Tôi ghét những người thông thái vì họ biếng lười, hèn nhát và thận trọng. Tôi thích những đam mê hủy diệt hơn là sự trầm tĩnh của những triết gia, thứ khiến họ dửng dưng với cả niềm vui và nỗi đau. Nhà hiền triết không biết đến bi kịch của nỗi đam mê lẫn nỗi sợ chết; không biết sự mạo hiểm và lòng nhiệt huyết hay sự man rợ, cái nghịch dị, chủ nghĩa anh hùng uy nghi. Hắn nói điều ai cũng biết và ban phát những lời khuyên. Hắn không sống, cảm nhận, khao khát, trông đợi điều gì. Hắn đánh đồng tất cả những cái phi lý của đời sống và đau khổ vì những âu lo triền miên. Cuộc đời của những kẻ thông thái trống rỗng và cỗi cằn, bởi nó tách khỏi những mâu thuẫn và tuyệt vông. Một hữu thể tràn đầy những mau thuẫn không thể hòa giải hẳn giàu có và sinh động hơn nhiều. Sự cam chịu của kẻ thông thái bắt nguồn từ sự trống rỗng nội tại, chứ không phải là ngọn lửa nội tại. Tôi sẵn lòng chết vì lửa hơn là vì sự trống rỗng.

14.

Sự phù phiếm của lòng thương cảm

Sao người ta vẫn còn có những lý tưởng khi có quá nhiều kẻ khùng điên, mù lòa, điếc lác trên cõi đời này? Làm sao tôi nhẫn tâm thụ hưởng ánh sáng mà kẻ khác không thể thấy, cảm nhận thanh âm mà kẻ khác không thể nghe? Tôi thấy mình như kẻ đã ăn cắp ánh sáng. Ta không ăn cắp ánh từ những người mù và âm thanh từ những người điếc đó sao? Sự minh mẫn của ta há không chịu trách nhiệm cho nỗi tăm tối của người điên? Khi tôi nghĩ đến những điều này, tôi mất cả lòng can đảm và ý chí, những suy tư dường như cũng vô ích, và sự thương cảm, cũng hết sức hão huyền. Bởi tôi không đủ tầm thường để cảm thấy lòng thương cảm bất kỳ ai. Lòng thương cảm là một chỉ dấu của tính thiển cận: những số phận vỡ nát và sự đau khổ triền miên khiến bạn phải hét lên hay hóa đá. Lòng thương hại không chỉ bất lực, nó còn là sự sỉ nhục. Và hơn nữa, làm sao bạn có thể thương hại người khác khi bản thân bạn cũng phải khổ đau nhục nhã? Lòng thương cảm tầm thường như nó là, bởi nó chẳng ràng buộc bạn với bất kỳ điều gì? Không ai trong cõi đời này chết vì những nỗi đau của người khác. Và kẻ nói rằng hắn đã chết cho chúng ta lại không phải là chết; hắn bị giết.

15.

Chân lý, cái từ này!

Ý tưởng về giải phóng thông qua sự đè nén khao khát là thứ ngu xuẩn nhất mà đầu óc con người từng nghĩ tới. Tại sao cắt cụt cuộc đời, tại sao hủy diệt nó chỉ vì thứ lợi ích bé mọn như sự thản nhiên hoàn toàn và ảo ảnh của tự do? Làm sao bạn dám nói về cuộc đời sau khi bạn đã đàn áp nó ngay trong bản thân mình? Tôi kính trọng con người với những khát khao ngang trái, những đau khổ và tuyệt vọng trong tình yêu hơn những triết gia hững hờ và kiêu ngạo. Một thế giới đầy nhóc bọn triết gia, đấy là một viễn tượng kinh hoàng. Chúng nên bị xóa sổ để đời sống có thể tiếp diễn như nó vốn thế – mù quáng và phi lý.

Tôi ghét sự thông thái của những kẻ hững hờ vì các chân lý ấy, những kẻ không trải nỗi đau bằng các dây thần kinh, thịt da và máu của họ. Tôi chỉ thích thứ chân lý cơ hữu, sinh động, đứa con của nỗi bất an của chúng ta. Những kẻ mà suy nghĩ có giá trị thì luôn luôn đúng; chẳng có lý lẽ nào để phản bác chúng. Và cho dù có điều đó, chúng cũng không lâu bền. Tôi lấy làm lạ tại sao vẫn còn những kẻ mải mê truy cầu chân lý. Những kẻ thông thái ấy không hiểu là chân lý không thể tồn tại hay sao?

Lê Minh Kha trích dịch từ On the Heights of Despair, translated by Ilinca Zarifopol-Johnston, Published October 1st 1996 by University Of Chicago Press

1 Comment

Filed under Dịch thuật

Năm món quà của đời sống – Mark Twain

200px-Mark_Twain,_Brady-Handy_photo_portrait,_Feb_7,_1871,_cropped

LTS: Mark Twain (1835-1910) là nhà văn nổi tiếng người Mỹ với những sáng tác mang đậm tính chất châm biếm, trào phúng; với lối văn giễu nhại dựa trên sự quan sát sắc sảo, tinh tế bức tranh hiện thực đời sống.

Ngoài những tiểu thuyết đã hết sức phổ biến trên toàn thế giới như: Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn… Mark Twain còn là bậc thầy của thể loại truyện ngắn. Đặc biệt, trong số những sáng tác của ông, có rất nhiều truyện ngắn viết cho thiếu nhi dưới hình thức những ngụ ngôn hay truyện cổ tích.

Năm món quà của đời sống có thể được đọc như một truyện ngắn không chỉ dành cho trẻ em, mà dành cho tất cả những ai “đã từng là trẻ em”(Nguyễn Nhật Ánh).

1.

Vào buổi bình minh của cuộc đời, một nàng tiên nhân hậu dịu dàng xuất hiện. Nàng mang theo bên người một chiếc giỏ và bảo rằng: “Đây là những món quà. Hãy chọn lấy một phần quà và để lại những thứ khác. Hãy thận trọng để lựa chọn một cách thông minh nhất! Vì chỉ có một trong số chúng là có giá trị mà thôi”.

Những món quà ấy gồm năm thứ: Danh tiếng, Tình yêu, Giàu sang, Lạc thú, Cái chết. Chàng trẻ tuổi hăm hở trả lời:

“Chẳng cần phải nghĩ nhiều đâu, nàng ơi!”; và chàng chọn Lạc thú.

Rồi chàng vô tư bước vào dòng đời, theo đuổi những niềm vui mà tuổi trẻ mê mải. Nhưng bao lạc thú cũng chóng tàn và biến mất, ngày thêm hão huyền, vô nghĩa. Chúng lần lượt rời xa và chế nhạo chàng. Cuối cùng, chàng bảo: “Những năm tháng qua, ta đã phí hoài cho điều vô nghĩa. Nếu được chọn lại, ta sẽ lựa chọn sáng suốt hơn lần đầu”.

2.

Nàng tiên lại xuất hiện và nói với chàng:

“Bốn món quà vẫn còn đấy. Chàng hãy chọn thêm lần nữa. Và hãy nhớ là thời gian trôi đi rất nhanh, chỉ một trong số các món quà ấy là có giá trị”.

“Người đàn ông suy nghĩ rất lâu, và rồi, chàng chọn Tình yêu; không để ý đến những giọt lệ đang dâng đầy trong đôi mắt nàng tiên dịu dàng ấy.

Nhiều năm sau, người đàn ông ngồi bên cỗ quan tài trong ngôi nhà hoang lạnh. Và ông thì thầm: “Từng người tình đã bỏ ta ra đi. Giờ đây, là cả nàng, người tình cuối và cũng là người ta yêu thương nhất nằm xuống nơi này. Nỗi đơn côi vẫn liên tiếp lướt qua đời ta; những khoảnh khắc hạnh phúc mờ nhạt dần, hoang hoải. Tình yêu, ta đã trả cho ngươi biết bao sầu đau đắm đuối. Tự thâm tâm mình, ta muốn nguyền rủa ngươi”.

3.

“Chọn lại lần nữa đi.” Giọng nàng tiên đang thì thào bên tai chàng.

“Cuộc đời đã dạy ngươi sự thông thái, chắc chắn là như thế, sau bao nhiêu va vấp. Ba món quà hãy còn nguyên đấy. Chỉ có một thứ trong số chúng là đáng giá. Hãy nhớ điều đó và cẩn trọng lựa chọn”.

Người đàn ông nghiền ngẫm rất lâu và chọn Danh tiếng. Nàng tiên trút tiếng thở dài và bay đi mất.

Thời gian trôi đi, như bóng câu qua cửa. Rồi khi nàng tiên quay trở lại, đến nơi người đàn ông từng ngồi suy ngẫm một mình trong những ngày xưa cũ nhạt nhòa, nàng đã biết được những điều trăn trở, dằn vặt của riêng ông:

“Tên tuổi của ta vang khắp toàn cầu, được mọi người ca tụng, được nhắc đến cả nơi hang cùng ngõ hẻm. Với ta, trong một lúc nào đấy, điều đó thật tuyệt vời. Nhưng thời khắc ấy mới ngắn ngủi làm sao! Mà theo sau là bao đố kỵ, gièm pha, vu khống, ghen ghét, hãm hại. Rồi sự báng bổ là dấu hiệu khởi đầu cho những kết thúc, cho sự chôn vùi danh tiếng ảo vọng. Ôi! Sự nổi tiếng mới đắng cay và thống khổ biết bao nhiêu! Nó bị bức hại ở thời kỳ đầu và bị thương hại ngay lúc suy tàn”.

4.

“Chọn lại đi.” Nàng tiên lên tiếng với ông.

“Vẫn còn hai món quà. Và đừng sợ hãi. Một trong hai món có giá trị thực sự, và nó vẫn còn ở đây”.

“Sự Giàu sang– đây mới được xem là thứ uy quyền có thực trong cõi đời! Từ trước tới giờ, ta đã mù quáng làm sao!”, người đàn ông nói. “Và cuối cùng, cuộc đời này sẽ thật đáng sống đối với ta. Ta sẽ tiêu pha thật phóng khoáng. Những kẻ chế giễu và xem thường ta sẽ xách dép lẽo đẽo phía sau. Ta sẽ khiến chúng nổi điên vì ghen ăn tức ở. Ta sẽ có được những thứ xa xỉ, những thú vui, những trò chơi; đạt được tất cả sự thỏa mãn, đủ đầy về tinh thần lẫn vật chất mà bao người mơ ước. Ta sẽ mua tất cả! Sự tôn trọng, lòng hâm mộ, sự sùng kính- cả những cái ôm giả tạo mà đời sống bán buôn tầm thường vẫn đưa ra phía trước cho bao kiếp người. Ta đã lãng phí quá nhiều thì giờ, để chọn những thứ vớ vẩn trước đó. Song, hãy để chúng trôi đi không tăm tích. Cuối cùng, có vẻ như ta đã chọn lựa được điều tuyệt vời nhất”.

Ba năm trôi qua. Đến một ngày nọ, người đàn ông kia ngồi run lẩy bẩy nơi tầng áp mái tồi tàn. Trông ông gầy gò và hốc hác, nước da vàng vọt và mắt trũng sâu, áo quần rách nát. Ông đang nhai một mẩu bánh mì khô và lầm bầm:

“Ta nguyền rủa những món quà của cuộc đời này, tất cả chỉ là những thứ giả dối chết tiệt. Chúng lừa phỉnh tất thảy mọi người. Chúng không phải là những món quà, mà chỉ là sự vay mượn. Lạc thú, Tình yêu, Danh tiếng, Giàu sang: đấy là những thứ trá hình cho cái hiện thực có thật sau chót: Nỗi đau, Sự sầu muộn, Hổ thẹn và Nghèo đói.Nàng tiên đã nói đúng, trong chiếc giỏ của nàng, chỉ có một món quà mới đáng giá, chỉ có một món quà mới không vô giá trị. Ta mới nông cạn và ngu xuẩn làm sao khi so sánh những thứ kia với món quà vô giá đó. Cơ thể ta đã quá mỏi mệt, sự u sầu và nỗi hổ thẹn đang thiêu đốt tâm can ta. Hãy đem nó lại đây! Ta đã mệt lắm rồi. Ta muốn ngủ yên mãi mãi”.

5.

Nàng tiên đến, mang theo bốn món quà mà ông đã chọn, chỉ thiếu mỗi Cái chết . Nàng nói:

“Ta đem chiếc giỏ có chứa những món quà này đến cho đứa con yêu của một bà mẹ, một chú nhóc dễ thương. Nó không biết nhưng tin ta, nhờ ta lựa chọn cho nó. Ông chẳng hỏi ta gì cả khi ông lựa chọn những món quà”.

“Ôi, ta mới khốn khổ làm sao! Giờ còn lại cái gì cho ta đây?”

“Cái còn lại là cái mà ông thậm chí cũng không xứng đáng với nó: những nỗi buồn của Tuổi già”.

LÊ MINH KHA

(dịch từ The five boons of life)

Bài đã đăng Báo Bình Định

Leave a comment

Filed under Dịch thuật

Cơn bão – Kate Chopin

chopin

Khi nhắc đến những nhà văn có đóng góp lớn cho phong trào nữ quyền trên toàn thế giới, người ta không thể không nhắc đến Kate Chopin (1850-1904). Các truyện ngắn của nữ văn sĩ người Mỹ này thường được xem là những tuyên xưng về quyền con người, đặc biệt là quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội nam quyền. Truyện “Cơn bão” dưới đây rất tiêu biểu cho chiều sâu tư tưởng và tài năng nghệ thuật của cây bút nữ tài hoa, nhân hậu ấy.

1.

Những chiếc lá vẫn đứng lặng dù Bibi nghĩ rằng trời sắp mưa. Bobint, người đã quen chuyện trò bình đẳng với cậu con trai nhỏ, chỉ cho chú nhóc thấy đám mây xám đang cuộn dần lên từ phía trời tây, báo hiệu thời tiết xấu, theo sau đó là những tiếng ầm ầm đầy đe dọa. Họ đang ở cửa hàng nhà Friedheimer và sẽ tạm trú ở đấy, chờ cơn bão qua. Hai bố con ngồi phía trong cửa ra vào, trên hai cái thùng rỗng. Bibi đã được bốn tuổi và trông rất lanh lợi.

– “Chắc mẹ sẽ lo lắng lắm”, cậu bé nói, mắt chớp chớp.

– “Mẹ sẽ đóng cửa nhà. Có thể, tối nay mẹ sẽ nhờ Sylvie sang giúp”, Bobint trả lời, dỗ dành con.

– “Không! Mẹ sẽ không nhờ Sylvie. Cô ấy đã giúp mẹ vào ngày hôm qua”, Bibi gào to.

Bobint đứng dậy và bước đến quầy hàng mua một lon tôm đóng hộp mà Calixta rất thích. Rồi anh quay trở lại chỗ của mình và thản nhiên ngồi xuống, cầm lon đồ hộp, trong khi bão nổi. Bão làm lay chuyển cửa hàng lợp bằng gỗ và dường như xẻ từng đường rạch lớn trên cánh đồng ngoài xa. Bibi tựa cánh tay bé nhỏ của mình lên đầu gối bố, và không lo sợ nữa.

2.

Ở nhà, Calixta còn chưa cảm thấy lo lắng cho sự an toàn của hai bố con. Nàng ngồi một bên cửa sổ, mải miết đạp máy may. Nàng đang bận bịu và không để ý cơn bão đang tới. Tuy nhiên, nàng cảm thấy thời tiết rất oi bức và phải thường xuyên dừng may để lau mặt vì mồ hôi đọng lại thành hạt. Nàng nới lỏng cổ áo thụng màu trắng. Trời bắt đầu tối sầm lại, rồi khi bất chợt hiểu ra tình hình, nàng vội vã đứng bật dậy và chạy đi đóng các cửa sổ lẫn cửa chính.

Phía ngoài, trước hiên nhà, nàng phơi bộ quần áo mặc đi lễ của Bobint. Nàng vội vàng gom chúng lại trước khi trời mưa. Khi nàng bước ra ngoài, Alce Laballire đang cưỡi ngựa đứng trước cổng. Kể từ lúc lập gia đình, nàng rất hiếm khi nhìn thấy ông, và cũng chưa bao giờ ở nhà một mình. Nàng đứng đấy, tay cầm áo khoác của Bobint, và mưa bắt đầu rơi nặng hạt. Alce cưỡi ngựa đến chỗ trú, dưới mái hiên nhà kho, nơi đàn gà xúm xít và những cái cày, cái bừa chụm lại ở một góc.

– “Tôi có thể vào và đợi ngoài hiên cho đến khi bão qua, được không cô Calixta?”, ông nói.

– “Mời ông vào, thưa ông Alce!”.

Giọng nói của ông và ngay của chính bản thân khiến nàng giật mình như bị thôi miên, nàng nắm chặt chiếc áo gi-lê của Bobint. Alce bước lên hiên nhà, túm lấy cái quần và tấm áo vét viền vàng của bé Bibi sắp bị cơn gió mạnh thình lình thổi bay. Ông định chỉ đứng ngoài hiên, nhưng dĩ nhiên, như thế cũng có nghĩa là đứng ngoài trời: nước mưa dội mạnh trên sàn, và ông phải nép vào trong, khép bớt cửa lại. Thậm chí, phải chặn một cái gì đó ngay dưới cánh cửa để nước mưa khỏi bắn vào.

– “Chà! Mưa to quá! Có lẽ hai năm rồi mới có một trận mưa như thế này!”, Calixta thốt lên khi cuốn tấm vải đang may dở lại. Alce giúp nàng nhét chúng vào một góc.

Calixta trông có vẻ mập mạp hơn so với 5 năm trước, khi nàng mới lập gia đình; tuy nhiên, nàng vẫn giữ được vẻ đẹp rạng ngời. Đôi mắt xanh của nàng hãy còn gợi cảm, và mái tóc vàng rối bù vì mưa gió, bết chặt vào hai bên tai và sau gáy.

Mưa dội mạnh vào phía dưới mái lợp, với một lực rất mạnh, đe dọa làm tung cánh cổng và tràn vào trong nhà. Họ loanh quanh trong phòng ăn, rồi phòng khách và nhà bếp. Cạnh đấy là phòng ngủ của nàng, chiếc giường nhỏ của Bibi đặt sát cạnh giường của Calixta. Cửa phòng mở, trông rõ căn phòng với ánh sáng trắng mờ ảo của mấy chiếc giường, các cánh cửa chớp khép kín, khiến căn phòng trở nên mờ tối và ẩn mật hơn.

Alce thả mình xuống chiếc ghế gỗ và Calixta lúng túng thu gom các mẩu vải dưới nền nhà mà nàng đang may dở. “Nếu cứ mưa thế này thì mấy bờ đê ngoài kia, không biết có chống chọi nổi không!”, nàng lo lắng.

– “Cái gì khiến cô quan tâm đến mấy bờ đê ấy?”.

– “Tôi lo lắm chứ! Bobint và Bibi đang ở ngoài đó, họ sẽ gặp bão nếu như mới rời khỏi cửa hàng nhà Friedheimer!”.

– “Hãy hy vọng, Calixta à, Bobint dư hiểu biết để đối phó với những cơn lốc”.

Nàng đến gần và đứng bên cửa sổ với vẻ mặt lo lắng. Nàng lau khung cửa đã bị hơi nước làm mờ. Không khí bỗng trở nên ngột ngạt. Alce đến bên nàng, đưa mắt nhìn ngang qua vai nàng. Cơn mưa như trút nước, che khuất những ngôi nhà ở đằng xa và phủ lên chúng một màn sương xam xám. Sét đánh không ngừng. Một tia sét đánh trúng cái cây ngoài đồng, ánh sáng chói lòa và tiếng sấm rền vang dường như phủ lên nơi họ đang đứng.

Calixta lấy tay che mặt và nàng khóc, loạng choạng lui về sau. Alce vòng tay ôm nàng, và đột ngột kéo nàng gần mình hơn.

“Đừng!”, nàng khóc, vùng khỏi vòng tay ông và rời khỏi cửa sổ. “Ngôi nhà đó không biết sẽ như thế nào! Giá như tôi biết được Bibi đang ở đâu!”. Nàng không thể tự trấn tĩnh, cứ đứng ngồi không yên. Alce siết chặt bờ vai và nhìn vào khuôn mặt nàng. Cơ thể nàng ấm áp, đang run lên khi ông chạm vào nàng. Điều ấy đã đánh thức nơi ông niềm say mê và nỗi khát khao.

– “Calixta – ông nói – em đừng sợ! Sẽ không có gì xảy ra đâu em. Ngôi nhà ấy thấp lắm, lại có nhiều cây cao bao bọc, nó sẽ không bị gió lốc cuốn đi đâu. Thôi nào! Em bình tĩnh!”. Ông vuốt những lọn tóc khỏi khuôn mặt nàng ấm áp. Đôi môi nàng đỏ mọng và ẩm ướt như hạt lựu. Cổ nàng trắng ngần, và cơ thể nàng đầy đặn, quyến rũ ông. Khi nàng ngước nhìn ông, nỗi sợ trong đôi mắt xanh của nàng bỗng ánh lên, gợi cho ông khát khao nhục cảm. Ông nhìn vào đôi mắt ấy và chẳng thể làm gì khác hơn là hôn lên môi nàng. Nụ hôn ấy gợi lại trong ông kỷ niệm về Ngày lễ Đức mẹ lên trời.

– “Em có nhớ ngày lễ đó không, Calixta?”, ông nói bằng giọng thầm thì, run run xúc động. Đúng rồi! Nàng vẫn nhớ. Trong buổi lễ đó, ông đã hôn nàng cuồng nhiệt đến mức gần như mất cảm giác, và để giữ gìn cho nàng, ông đã bỏ đi trong sự tuyệt vọng, vì không muốn xâm phạm vào sự trắng trong, thuần khiết đó. Giờ đây, môi nàng, cả cơ thể nàng như gọi mời những yêu thương nơi ông.

Họ không còn để ý đến những cơn mưa đang trút xuống nữa, tiếng mưa đổ khiến nàng bật cười trong vòng tay ông. Niềm đam mê mãnh liệt của nàng, giống như một ngọn lửa xâm chiếm và tìm được sự đồng điệu nơi tâm hồn và cơ thể ông, như trước đó nàng chưa từng có.

Tiếng sấm rền xa và dần ngừng hẳn. Mưa rơi nhẹ nhàng trên mái nhà, đưa họ vào giấc ngủ mơ màng.

3.

Cơn mưa đã tạnh, và ánh mặt trời khiến cả vũ trụ thẳm xanh như một lâu đài dát ngọc. Calixta đứng ở hiên nhà, trông theo Alce cưỡi ngựa xa dần. Ông quay lại và mỉm cười với nàng bằng khuôn mặt rạng ngời; nàng ngẩng cao chiếc cằm xinh xắn và cười vang.

Bobint và Bibi, chậm rãi trở về nhà, ngừng lại ở bể nước và rửa ráy, chỉnh trang lại áo quần. Calixta đang chuẩn bị bữa tối. Nàng đã bày thức ăn ra bàn và pha cà phê trước lò sưởi. Nàng vui mừng nhảy cẫng lên khi hai bố con bước vào nhà.

– “Ôi, Bobint! Anh về rồi đây! Ôi, em mừng quá! Anh ở đâu trong khi trời bão thế. Còn Bibi nữa, con không ướt chứ, con không bị sao chứ?”. Nàng ôm chặt Bibi và hôn con thắm thiết. Những lời giải thích và xin lỗi mà Bobint đã chuẩn bị trên đường về cũng tan biến khi Calixta nhận thấy anh hoàn toàn không bị ướt, và rất hân hoan khi hai bố con về nhà an toàn.

Bobint và Bibi bắt đầu nghỉ ngơi, và khi cả ba ngồi vào bàn ăn, họ cười phá lên đến nỗi bất kỳ ai, dù ở xa như nhà của Laballire cũng nghe thấy.

4.

Tối hôm đó, Alce Laballire viết cho vợ mình một bức thư. Đó là một lá thư chan chứa tình cảm. Ông dặn bà không cần phải về vội, bà và các con có thể ở thêm một tháng nữa, nếu thích. Ông càng ngày càng thấy mọi thứ tốt lên, và dù ông rất nhớ họ, ông sẵn sàng chịu đựng sự xa cách này thêm thời gian nữa, ông cho rằng: sức khỏe và niềm vui của họ là điều quan trọng hơn hết thảy.

5.

Về phần Clarisse, bà rất vui mừng khi nhận được thư của chồng. Bà và các con đều khỏe. Cuộc sống ở đây rất thoải mái, nhiều bạn bè và người quen cũ của bà đang sống ở vịnh đảo này. Chuyến nghỉ mát đầu tiên kể từ khi bà lập gia đình khiến bà khôi phục lại cảm giác tự do như hồi còn son rỗi. Đời sống hôn nhân với người chồng là tất cả những gì mà bà tự nguyện dâng hiến.

Và rồi cơn bão qua. Tất cả mọi người đều hạnh phúc.

LÊ MINH KHA lược dịch từ nguyên bản tiếng Anh “The Storm”

Bài đã đăng Báo Bình Định

Leave a comment

Filed under Dịch thuật

Chàng Năm Mới bé nhỏ – Ellen Robena Field

Happy-New-Year-2014-Horse-Riding.jpg

Lời giới thiệu: Ellen Robena Field là nữ văn sĩ người Mỹ sống vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ 19. Những truyện ngắn của bà viết cho thiếu nhi trong sáng và đẹp như những câu chuyện cổ tích. Truyện “Chàng Năm Mới bé nhỏ” dưới đây lấy cảm hứng từ khoảnh khắc chuyển giao năm cũ – năm mới. Nó như một lời chúc, một ước nguyện tốt lành nhân ngày đầu năm.

………………………………………..

          Một buổi sớm trời lạnh, Maurice chờn tỉnh giấc mơ. Cậu nằm im trên giường và chăm chú dỏng tai nghe. Cậu nghĩ rằng mình nghe thấy tiếng gõ trên khung cửa sổ nhà mình, song mặt trăng hãy còn chiếu sáng và sương giá lạnh lẽo khiến Maurice không thể nhìn thấy gì phía ngoài ô cửa kính. Do đó, cậu ngái ngủ trườn mình ra khỏi giường và mở cửa sổ, rồi thì thầm: “Ai thế?”

          “Là tớ đây,” một giọng nói lanh lảnh đáp lời. “Tớ là chàng Năm Mới bé nhỏ đây. Và tớ đã hứa sẽ mang đến cho tất cả mọi người những điều tốt lành. Song, vì tớ quá bé nhỏ nên cần ai đó giúp mình phân phát những điều tốt đẹp đó. Tại sao cậu không ra đây và giúp tớ nhỉ?”

            “Ồ, Trời lạnh lắm!” Maurice nói; “tớ thích quay lại chiếc giường ấm áp kia hơn; “và cậu rùng mình trước sương giá vừa lướt ngang qua mình, chạm nhẹ dưới cằm cậu với những cái vuốt ve buốt lạnh.

             “Đừng quan tâm đến cái lạnh,” chàng Năm Mới thúc giục, “làm ơn giúp tớ với.”

          Và thế là Maurice nhanh chóng khoác lấy quần áo ấm, và lập tức chạy ra ngoài sân vườn. Tại đấy, cậu thấy một chàng trai có đôi má hồng hào, bé nhỏ hơn cả cậu nữa, đang kéo một cỗ xe lớn đầy ắp bao thứ tốt lành. Một bên của chiếc xe có vẽ chữ “Tình yêu”, còn bên kia là chữ “Lòng tốt”. Ngay khi chàng Năm mới gặp Maurice, chàng ta nói ngay, “Nào, xin cậu nắm lấy và đẩy xe cùng tớ;” rồi trên những con đường và lên những ngọn đồi, họ lướt ngang qua cho đến khi dừng lại ở một túp lều cũ kỹ.

          “Đây là nơi đầu tiên chúng ta đến,” chàng Năm Mới nói. Maurice ngạc nhiên nhìn sang chàng. “Vì sao lại thế? Không một ai sống ở đây cả, ngoài một cụ già đang giúp việc cho gia đình tớ; và ông ấy cũng chẳng có lấy một người con!”. “Ông ấy cần sự giúp đỡ của tớ,” chàng Năm Mới nói, “vì người già cũng muốn được quan tâm chăm sóc nhiều như trẻ nhỏ. Cậu dọn giúp phía trước cửa nhà ông ấy, còn tớ lấy những phần quà xuống. Và rồi, những bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt bắt tay vào việc; lấy xuống quần áo ấm, củi, và bữa ăn cho ngày năm mới, chàng Năm Mới cất tiếng hát trong khi tiến hành công việc:

“Ồ, tôi là chàng Năm Mới bé nhỏ/ Tôi vượt bao giá băng bão tuyết/ Rung chiếc chuông với tiếng mừng vui/ Hãy mở cửa nhà để đón tôi vào.”

          Cụ Joe già nua nghe tiếng động phía bên ngoài, vội vàng bước ra cửa, khi cụ nhìn thấy những món quà tuyệt vời, cụ đã xúc động đến rơi lệ; và rồi, cụ bê chúng vào nhà, cụ lẩm bẩm: “Đêm nay, Thượng đế có mặt ở đây.”

          “Bây giờ, chúng ta đi đâu?” Maurice hỏi, lúc họ đi xuống chân đồi. “Đem những bông hoa cho cô gái nhỏ nghèo khổ, ốm yếu,” chàng Năm Mới trả lời.

          Chẳng bao lâu, họ đến một ngôi nhà nhỏ màu trắng, nơi chàng Năm Mới dừng chân. “Bessie, cô gái may quần áo của chúng tớ sống ở đây” Maurice nói. “Tớ không biết cô ấy bị ốm.”

          “Nhìn này,” chàng Năm Mới nói, “cửa sổ mở hé; chúng ta hãy nhẹ nhàng ném bó hoa màu hồng này vào trong phòng. Nó sẽ khiến cô ấy cảm thấy hạnh phúc khi thức giấc, và cô sẽ vui thêm nhiều ngày nữa.”

          Rồi sau đó, họ lại đến một nơi khác, để lại sau lưng bao thứ tốt lành trên đường đi của mình. “Cỗ xe của cậu mới tuyệt vời làm sao, “ Maurice nói, “dù cậu đem cho đi rất nhiều thứ, nó dường như không bao giờ hết.” “Đúng rồi, Maurice à, tình yêu và sự tử tế chẳng bao giờ cạn cả. Chỉ cần tớ tìm được người đáng thương và đáng được đối xử tử tế, cỗ xe của tớ luôn đầy ắp những điều tốt lành dành cho họ; và nó sẽ không cạn cho đến khi tớ còn tìm thấy ai đó để giúp đỡ. Nếu cậu sẵn lòng đi cùng tớ mỗi ngày và giúp tớ phân phát những điều tốt lành đó, cậu sẽ luôn cảm thấy hạnh phúc.

          “Một năm mới hạnh phúc!” ai đó reo lên; và Maurice nhận thấy mình đang năm trên giường; chị gái của cậu đứng ở cửa phòng, mỉm cười với cậu: “Em trai! Em vừa trải qua một giấc mơ thật đẹp phải không?” – chị cậu hỏi.

“ Sao vậy nhỉ, chàng Năm Mới bé nhỏ đâu rồi?” Maurice nói, “chàng ta vừa ở đây với em mà.”

“Vào phòng của mẹ mà xem cậu ta đã cho em cái gì nè,” chị của cậu trả lời. Trong chiếc nôi màu trắng như tuyết, cậu thấy một đứa em bé xíu mới chào đời, món quà của chàng Năm Mới. Và rồi, Maurice hạnh phúc biết bao! Nhưng cậu không quên giấc mơ của mình. Cụ Joe già và chị Bessie cũng có quà, và Maurice luôn sốt sắng giúp đỡ mọi người khiến cho những người bạn của cậu vui mừng vì Năm Mới hạnh phúc đã đến.

                   Lê Minh Kha dịch từ nguyên tác The little New Year

Leave a comment

Filed under Dịch thuật

Những người hát trên đồi

33168606

 

1. Xuân về, đồi núi trải dài trong màu cỏ non êm mượt. Những tia nắng dịu dàng lang thang khắp những bờ suối mát lành và những triền đồi bazan đất đỏ. Thênh thang cái nắng, cái gió đại ngàn hòa lẫn trong những khúc hoan ca vui mùa xuân mới. Đó là nhịp đập mùa xuân đang lẫn vào tiếng cồng chiêng bập bùng, vào men rượu cần huyền thoại, để ngời lên trong những hòa sắc Tây Nguyên ân tình mà sâu lắng, ảo huyền.

          Trong những ngọn sóng cỏ xanh non rợn tới trời, nghe vang đâu đâu tiếng hát của núi rừng. Những người hát trên đồi, theo nhịp bước mùa xuân trở lại. Những đôi môi biết cười, những thanh âm vang vọng đại ngàn xa tắp. Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, và những lời ca thênh thang, theo mây ngang trời.

2. Thênh thang ta bước trên đồi/Chim muông hoa lá theo nhau lên tiếng(Gió bay trên đồi). Mùa xuân theo nhịp bước tim vui. Chân trần bước trên mảnh đất quen, mắt ngước nhìn khoảng trời xanh ngắt, hồn lâng lâng men rượu ngà say. Ngây ngất trong giây phút đi về giữa quên và nhớ. Lời ca của những người con Tây Nguyên cứ kéo dài một kiếp người, từ lễ thổi tai để truyền ký ức đến men rượu cần cho phút thoáng quên giữa dòng đời tất bật. Và đất trời cũng tụ hội trong những tiếng ca, những khuôn nhịp, những giai âm và bước chân gọi mời khát khao trở lại, tìm kiếm Địa đàng, vươn đến những miền đất bình yên, thanh lọc.

          Này những lời ca, cứ theo giọng hát Y Moan rạo rực hơi thở núi rừng trong Bài ca trên đồi: Lời của chàng Đam San đi tìm Nữ thần mặt trời/Lời của con tim nao nức thao thức cuộc đời…Hỡi em yêu dấu ơi/Nhớ thương anh vẫn chờ/Trên đồi cao anh hát những ngày bên nhau. Đất trời chùng chiềng theo lời ca. Và mùa xuân bỗng thêm xuân, cỏ cây cũng hồi sinh trở lại trong những lời yêu thương, trong hình bóng cuộc tình một ngày tìm về, gọi dậy bao khát khao.

          Đó là tiếng lòng của người đàn ông, của những chàng trai hát bài ca đi tìm Nữ thần mặt trời. Còn với người con gái, ấp e thiên tính nữ như bông hoa trinh nguyên, thuần khiết mà cháy bỏng, đó là khoảnh khắc lắng lòng dịu dàng trong một ngày xuân Lãng mạn trên đồi: Bồng bềnh gió cứ cuốn bồng bênh bay lang thang/Bồng bềnh em theo anh trôi hoài trôi mãi/Và ngày tháng cứ thế cuộc tình trong si mê/Bồng bềnh anh cho em tháng năm vỗ về.

          Mùa xuân cứ thênh thang theo tiếng ca, qua suối qua đèo. Những ngọn đồi tiếp nối, trong hơi xuân đất trời mở hội. Tình yêu – mối giao cảm tuyệt vời nhất giữa người và người cứ miên man, trải dài theo những ngọn đồi của núi rừng Tây Nguyên, như những vần thơ Tagore: Sương mù và Tình yêu/ Hai kẻ lãng du/Lang thang trên đồi.

          Nhưng tình yêu ấy, có lẽ còn mong manh hơn cả sương mù, cứ mê mải len lỏi vào từng nhành hoa, khóm lá theo bước thiên di của nắng và gió. Những rừng thông xanh, những hồ nước đầy, những vạt dã quỳ cuối mùa song vẫn tươi vàng hoang dại, những đôi mắt lúng liếng cười, như gọi về bao nhớ quên thuở trước. Tất cả, trong sắc xuân ngời lên, qua những bài ca, những khúc nhạc vui mà những người hát trên đồi đem lại cho đời sống và lòng người. Mấy ai không thinh lặng giây phút đắm mình trong những khúc ca ấy, và không thấy lòng lâng lâng những nỗi niềm riêng.

3. Đồi cỏ xanh mượt, vượt quá tầm mắt. Những khoảnh khắc chìm trong tiếng ca xuân thì hãy còn vang vọng mãi. Kìa tia nắng mới mở ra khoảng không gian dịu mát, bình yên Tây Nguyên.

          Này em có nhớ? Những tia nắng báo hiệu một ngày xuân mới, xôn xao ngang qua ô cửa với cái khẽ khàng se lạnh mỗi độ xuân về. Màu nhạt của nắng hòa cùng chút bảng lảng của buổi sớm trong lành, và những giọt sương chừng như cũng đang cựa mình thức giấc. Tất cả hòa nhịp trong khúc hoan ca của phố núi khi Tết đến, ngày gọi mùa sang.

          Phải thức trọn các giác quan mới cảm nhận đủ đầy cái màu nắng mới ấy. Trong những tia nắng, có sắc màu của những bình minh dịu êm, có cả hương thơm của những cánh hoa nở rộ mỗi độ vào xuân. Nắng còn mang theo mình cái ngọt ngào như một lời ru của mẹ, như một vòng tay đưa nôi chập chờn giây phút tuổi thơ. Và như sự tương giao cảm giác trong thơ Baudelaire: Các âm thanh, màu sắc và mùi hương hô ứng với nhau. Nắng mới hòa hợp trong khoảnh khắc lắng lòng để nghe nhịp thở của đất trời và nhịp đập của trái tim mình.

          Mùa xuân, những người hát trên đồi. Hát cho những màu sắc, âm thanh và mùi hương tụ hội. Hát cho những bình minh hé mở, những mầm non cựa quậy, những yêu thương theo cánh gió đi về…

                                                                                                              Lê Minh Kha

Leave a comment

Filed under Tản văn

Một sớm Giáng sinh – Pearl S. Buck

752px-Gerard_van_Honthorst_001

Anh giật mình tỉnh giấc. Bây giờ đã 4 giờ sáng, thời điểm mà bố hay gọi anh dậy để giúp ông vắt sữa. Thật lạ! Thói quen từ thời trẻ vẫn cứ bám lấy anh dai dẳng như 15 năm trước. Bố anh đã mất cách đây đúng 13 năm, vậy mà anh vẫn giật mình thức dậy vào mỗi 4 giờ sáng. Anh cố tự ru mình ngủ lại, nhưng sáng hôm nay là ngày Giáng sinh, không việc gì anh phải ráng ngủ.

Vì sao đêm qua anh trằn trọc, thao thức? Anh hồi nhớ lại ngày xưa – việc mà thời gian này, anh thực hiện khá thuần thục. Khi đó, anh chỉ là cậu bé 15 tuổi và sống ở trang trại của bố. Anh rất yêu thương bố. Anh không hề nhận ra điều đó cho đến vài hôm trước ngày Giáng sinh, khi anh nghe lỏm được điều bố nói với mẹ: “Mary này, anh rất ghét phải gọi thằng Rob dậy vào mỗi buổi sáng. Nó lớn nhanh như thổi và cần phải ngủ cho đủ giấc. Giá em nhìn thấy con mình ngủ say như thế nào khi anh bước vào và đánh thức nó! Anh ước gì được để yên cho nó ngủ tiếp”.

“Anh không thể làm thế, Adam à – mẹ anh thốt lên – Hơn nữa, nó cũng không còn nhỏ nữa. Nó phải đỡ đần việc nhà”. “Ừ. Nhưng anh thật sự không thích khi phải đánh thức thằng bé”, bố anh chậm rãi.

Khi anh nghe những lời ấy, có điều gì đó mách bảo anh rằng: bố anh rất mực thương yêu anh! Trước đây, anh chưa bao giờ nghĩ đến điều đó, chưa quan tâm đúng mức đến sự gắn kết máu mủ giữa họ. Bố hay mẹ anh cũng chưa bao giờ trực tiếp nói về tình thương con – họ không có thời gian để làm việc đó. Họ luôn tất bật với công việc ở trang trại.

Và giờ, anh biết bố rất thương mình. Sẽ không còn có chuyện chậm chạp, lề mề vào mỗi buổi sáng, để bị bố gọi thêm nhiều lần nữa. Anh bật dậy ngay sau tiếng gọi đầu tiên, mặc vội quần áo, mắt vẫn khép hờ, nhưng tỉnh giấc hẳn.

Rồi sau đó, vào đêm trước ngày Giáng sinh năm anh 15 tuổi, anh nằm trên giường vài phút để nghĩ ngợi về cái ngày sắp đến. Gia đình anh rất nghèo, và toàn bộ niềm vui của cả nhà chỉ là con gà tây mà họ tự nuôi lấy cùng với những chiếc bánh nhân thịt băm mà mẹ anh làm. Mấy người chị của anh tự làm những món quà, còn bố mẹ luôn mua cho anh những thứ anh thích, không chỉ là chiếc áo ấm, mà còn có những món đồ khác, chẳng hạn, một cuốn sách.

Anh ao ước Giáng sinh này, khi anh tròn 15 tuổi, anh sẽ mua được một món quà thú vị hơn cho bố của mình. Như thường lệ, anh đến cửa hàng bình dân và mua một chiếc cà-vạt. Mọi thứ dường như ổn thỏa cho đến khi anh nằm nghĩ ngợi vào đêm hôm trước ngày Giáng sinh. Anh trông ra cửa sổ trên gác, những ngôi sao đang lấp lánh.

Hồi nhỏ, có lần anh đã hỏi bố: “Bố ơi! Chuồng rơm là gì hở bố?”. “Nó là cái chuồng, à, cũng gần giống như cái chuồng nhà mình đó con”, bố anh trả lời.

Và Chúa đã ra đời trong máng cỏ hang lừa, và những mục đồng đã tới…

Suy nghĩ ấy lay động anh như một ánh chớp. Tại sao anh không tặng bố một món quà thật đặc biệt, ngay ngoài kia, nơi chuồng nuôi bò sữa của nhà mình? Anh có thể thức dậy thật sớm, sớm hơn 4 giờ sáng, rón rén leo vào chuồng và vắt sữa bò. Anh sẽ làm việc ấy một mình, vắt sữa và lau dọn thật sạch, rồi khi bố anh đi vắt sữa, ông sẽ thấy mọi thứ đã đâu vào đấy. Ông sẽ biết ai làm việc đó. Anh cười phá lên khi ngắm nhìn những vì sao. Đấy là việc anh sẽ làm. Và anh không được phép ngủ say.

Anh chập chờn thức giấc đến hai mươi lần, với tay lấy chiếc đồng hồ cũ kỹ để xem giờ – nửa đêm, một giờ rưỡi rồi hai giờ. Đến ba giờ kém mười lăm, anh bật dậy và mặc quần áo. Anh rón rén bước xuống cầu thang, cố không làm tấm ván phát ra tiếng cót két, rồi bước hẳn ra ngoài. Những chú bò nhìn anh, lim dim và kinh ngạc. Với chúng, lúc này cũng là quá sớm.

Trước đây, anh chưa từng vắt sữa một mình, nhưng điều này cũng có gì là trở ngại. Anh cứ mãi nghĩ về sự ngạc nhiên của bố. Bố anh sẽ đến bên giường và gọi anh dậy, nói là họ phải đi vắt sữa trong khi Rob khoác vội quần áo. Ông sẽ ra chuồng bò, mở cửa và lấy đầy hai thùng sữa. Nhưng chúng không còn là những cái thùng trống không nữa, chúng đã đầy ắp và được đặt ngay ngắn ở nhà kho.

“Ôi, cái này là…”, anh có thể nghe thấy tiếng bố thốt lên. Anh mỉm cười và vắt sữa đều đều, những dòng sữa chảy mạnh vào thùng, sủi bọt thơm phức.

Công việc trở nên dễ dàng hơn anh từng nghĩ. Vắt sữa bò cũng không phải là việc chán phèo. Nó là một điều gì khác, một món quà tặng bố – người mà anh yêu quý. Anh làm xong công việc, hai thùng sữa đầy tràn, anh đậy lại và đóng cửa nhà kho thật cẩn thận, cài then thật kỹ. Quay trở về phòng, anh chỉ còn một phút để thay quần áo trong bóng tối và leo ngay lên giường thì nghe tiếng bố anh lịch kịch thức giấc. Anh lấy chăn đắp kín đầu để kiềm lại nhịp thở gấp của mình. Rồi cánh cửa phòng anh hé mở.

“Rob ơi! Chúng ta phải dậy thôi, con trai, cho dù hôm nay là ngày Giáng sinh”, bố anh gọi. “Dạ…”, anh vừa nói vừa ngái ngủ. Cánh cửa phòng khép lại và anh vẫn nằm trên giường, tự cười một mình. Chỉ vài phút nữa thôi, bố anh sẽ biết mọi thứ. Tim anh như muốn nhảy khỏi lồng ngực.

Thời khắc ấy như kéo dài bất tận. 10, 15 phút, anh cũng không còn rõ là bao lâu nữa, và anh lại nghe thấy tiếng bước chân của bố. Cửa phòng mở và anh vẫn nằm im.

Pearl S. Buck (1892-1973) – nữ văn sĩ người Mỹ đoạt giải Nobel Văn học năm 1938 – là một trong những bậc thầy trong việc khắc họa chân thực bức tranh đời sống và thế giới tâm trạng của con người. Ngoài công việc của một nhà văn, bà còn được xem là một nhà hoạt động xã hội tích cực, là cầu nối giữa hai nền văn hóa Đông – Tây.

Tác phẩm của Pearl S. Buck chứa chan màu sắc nhân văn. Từ những trang viết của bà, tình yêu thương đã vỗ cánh, hát khúc hoan ca và đập những nhịp đập đầy khao khát… “Một sớm Giáng sinh” (Christmas Day in the Morning) tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn của nữ văn sĩ này.

“Rob!”. “Dạ, con đây bố”. Bố anh đang cười. Tiếng cười như có gì thổn thức lạ thường. “Mày đùa với bố, phải không con?”. Bố anh đứng cạnh giường, cảm động, kéo tấm chăn cho cậu con trai. “Đó là quà Giáng sinh cho bố đấy, bố ạ!”.

Bố cúi xuống ôm chặt anh. Anh cảm nhận vòng tay của bố choàng quanh người mình. Trời còn tối mịt và họ không thể nhìn thấy mặt nhau. “Con trai, cảm ơn con. Chưa có ai làm được điều gì ý nghĩa như vậy…”. “Thôi mà bố, con chỉ muốn bố biết… chỉ muốn bố biết rằng…!”. Ngôn ngữ vượt ngoài tầm kiểm soát của lý trí. Anh chẳng còn biết mình nói gì nữa. Trái tim anh tràn ngập tình thương yêu.

Anh thức dậy và mặc lại quần áo. Họ cùng nhau bước xuống thang gác và đến bên cây thông Giáng sinh. Và tuyệt vời thay Giáng sinh! Trái tim anh gần như lại vỡ ra vì thẹn thùng và tự hào khi bố kể lại với mẹ và nói với mấy đứa em rằng anh Rob đã tự mình thức dậy như thế nào.

“Đó là món quà Giáng sinh tuyệt nhất mà bố từng có, và con trai à, bố sẽ mãi nhớ về nó, mỗi buổi sáng Giáng sinh hàng năm khi bố còn sống trên đời này”. Cả bố và anh đều nhớ điều đó, và giờ bố đã qua đời, chỉ còn mình anh nhớ rằng: vào lúc tờ mờ của sáng Giáng sinh linh thánh, một mình ở chuồng bò sữa của gia đình, anh đã hoàn tất món quà đầu tiên của tình thương yêu chân thành.

Giáng sinh này, anh muốn viết một tấm thiệp cho người vợ của mình và nói rằng anh yêu nàng biết bao nhiêu. Đã lâu rồi anh chưa nói điều đó, dù anh yêu nàng theo cách rất đặc biệt, nhiều hơn họ đã từng khi mười chín đôi mươi. Anh cảm thấy thật hạnh phúc vì nàng luôn yêu thương anh. À, đó là niềm vui thật sự của cõi đời này, đó là khả năng yêu thương. Tình yêu vẫn luôn hiện hữu trong anh. Nó tình cờ nhóm lên trong anh khi anh nhận ra bố yêu thương mình. Vậy là: Tình yêu có thể đánh thức tình yêu. Và anh có thể gửi tặng món quà tình yêu ấy mãi mãi. Buổi sáng ngày Giáng sinh này, anh sẽ gửi nó cho người vợ yêu dấu. Anh sẽ lại viết cho nàng những bức thư tình để nàng đọc và lưu giữ. Anh đến bên bàn làm việc và viết những dòng thương mến: Tình yêu thắm thiết của đời anh…

Thật là một Giáng sinh, một Giáng sinh an lành!

LÊ MINH KHA dịch từ “Christmas Day in the Morning”

Bài đã đăng Kiến thức ngày nay, số 842

Leave a comment

Filed under Dịch thuật

Lý luận văn học- Dẫn nhập ngắn – Jonathan Culler – P.16

tải xuống

Những thuộc tính chống lại những hệ quả

          Ở mỗi trường hợp trong năm đặc trưng trên, ta bắt gặp bố cục tôi từng  nhắc đến: chúng ta bàn về cái có thể trình bày như thuộc tính của các tác phẩm văn học, những đặc trưng chứng tỏ chúng là văn học, nhưng cũng bàn về cái có thể được coi là những hệ quả của một dạng thức quan tâm đặc thù nào đấy, một chức năng ta ban cho ngôn ngữ trong sự nhận thức nó là văn học. Dường như, mỗi cách nhìn cũng không thể gói tròn cách nhìn khác để tạo nên cách nhìn toàn diện. Những đặc tính của văn học không thể bị quy giản thành những thuộc tính khách quan hay những hệ quả của sự trình bày ngôn ngữ. Điều này có một nguyên nhân cơ bản, vốn đã xuất hiện trong vài thể nghiệm suy tư ở phần đầu của chương này. Ngôn ngữ chống lại những cấu trúc mà ta áp đặt. Thật khó để đưa cặp câu: “Chúng tôi xoay vòng tròn …” thành lời đoán vận của chiếc bánh cầu phúc Trung Hoa hay “Khuấy mạnh” vào một bài thơ cảm động. Khi ta xem xét cái gì đó như là văn học, khi ta tìm kiếm khuôn mẫu và sự mạch lạc, luôn có sự kháng cự ngay trong ngôn ngữ; ta phải làm việc với nó, làm việc cùng nó. Rốt cuộc, “tính văn chương” của văn học có thể nằm trong độ căng của sự tương tác giữa chất liệu ngôn ngữ và những mong đợi thông thường của người đọc về bản thân văn học. Tuy nhiên, tôi nói điều này với sự cẩn trọng, vì những điều khác ta đã biết qua năm trường hợp, từng đặc điểm được xác nhận như một đặc trưng quan trọng của văn chương, song không chuyển hóa thành đặc trưng khu biệt, bởi nó có thể được tìm thấy ở sản phẩm qua những sự vận dụng ngôn ngữ khác.

Những chức năng của văn học

          Tôi bắt đầu chương này bằng lưu ý rằng: lý luận văn học trong những  năm 80 và 90 không chuyên chú vào sự khác biệt giữa những tác phẩm văn học và phi văn học. Điều những nhà lý luận làm, là để suy ngẫm về văn học như một phạm trù ý thức hệ và lịch sử, suy ngẫm về những chức năng chính trị và xã hội mà cái gọi là “văn học” được nghĩ là sẽ thực hiện. Thế kỷ 19, ở nước Anh, văn học nổi lên như một ý niệm vô cùng quan trọng, một dạng thức viết lách đặc biệt chuyên chở một vài chức năng. Đóng vai trò chủ thể cho sự truyền bá ở các thuộc địa của Đế quốc Anh, nó được giao nhiệm vụ mang đến cho người bản xứ những tuyên xưng về sự vĩ đại của Anh quốc và biến họ trở thành những kẻ chịu ơn trong sự nghiệp khai hóa lịch sử. Ở trong nước, nó sẽ chống lại thói ích kỷ và sự coi trọng vật chất vốn được nền kinh tế tư bản mới cổ vũ, nó cung cấp cho tầng lớp trung lưu và quý tộc những giá trị thay thế và đem đến cho người lao động quyền lợi văn hóa – cái thiết yếu chuyển họ xuống địa vị phụ thuộc. Nó sẽ cùng lúc rao giảng những tuyên xưng nhạt nhẽo, cung cấp ý thức về sự vĩ đại dân tộc, tạo nên sự thông cảm giữa các giai tầng, và cuối cùng, thực hiện chức năng như sự thay thế cho tôn giáo, thứ dường như không còn khả năng gắn kết xã hội.

          Bất kỳ tập hợp văn bản nào có thể thực hiện những điều đó, hiển nhiên là rất đặc biệt. Điều gì của văn học được xem làm được tất cả việc này? Nó là thứ, về cơ bản  là một khuôn thức đặc biệt vận hành trong văn học. Một tác phẩm văn học – chẳng hạn, Hamlet – có đặc trưng là câu chuyện về một nhân vật tưởng tượng: nó thể hiện mình theo những mẫu thức nào đó (lý giải tại sao bạn đọc nó theo nhiều cách khác nhau), nhưng đồng thời, nó chối từ xác định lĩnh vực hay phạm vi của mẫu thức đó – điều này dẫn đến sự thoải mái, giúp người đọc và các nhà phê bình nói về “tính toàn thể” của văn học. Cấu trúc của các tác phẩm văn học như thế, nhìn chung, dễ khiến ta tiếp nhận chúng như nói về “nhân sinh” hơn là chỉ rõ những phạm trù hẹp chúng miêu tả hay giải thích. Phải chăng Hamlet chỉ nói về những hoàng tử, hoặc những con người thời Phục hưng, hoặc những người trẻ sống nội tâm, hay những kẻ mà cha chết trong hoàn cảnh khó hiểu? Vì dường như, tất cả những câu trả lời như thế đều không thỏa mãn, nên tốt hơn, người đọc không trả lời, bằng cách đó, tiếp nhận hoàn toàn khả năng của tính phổ quát. Theo đặc trưng của chúng, các tiểu thuyết, bài thơ và vở kịch chối từ sự thăm dò chúng thuộc mẫu thức gì, đồng thời, chúng mời gọi tất cả người đọc để tâm vào những tình thế khó xử và suy nghĩ của người trần thuật cũng như các nhân vật.

          Nhưng sự kết hợp của yêu cầu về tính phổ quát và việc hướng đến tất cả những ai có thể đọc, ắt phải đi kèm một chức năng dân tộc tính mạnh mẽ. Trong Những cộng đồng tưởng tượng: Những suy ngẫm về nguồn gốc và sự truyền bá của chủ nghĩa dân tộc – một tác phẩm về lịch sử chính trị có ảnh hưởng với tư cách lý luận, Benedict Anderson biện giải rằng: những tác phẩm văn học ấy – đặc biệt là các tiểu thuyết – góp phần tạo nên những cộng đồng dân tộc bằng những yêu cầu và khẩn khoản của chúng đối với một cộng đồng người đọc rộng lớn, hình thành những giới hạn, tuy nhiên, về nguyên tắc, mở ngỏ với tất cả những người biết đọc. Anderson viết, “hư cấu lặng lẽ và liên tục thẩm thấu vào hiện thực, tạo nên sự tin tưởng đáng kể của cộng đồng vào trạng thái mờ ẩn, vốn là dấu hiệu của những quốc gia hiện đại”. Thể hiện các nhân vật, người kể chuyện, cốt truyện, chủ đề của văn học Anh trong tư cách cái phổ quát là nhắm đến việc thúc đẩy một cộng đồng tưởng tượng tuy mở nhưng lại giới hạn với những chủ thể ở các thuộc địa Anh, chẳng hạn, gợi lên những khao khát. Thực ra, khi tính phổ quát của văn học càng được nhấn mạnh, nó càng thể hiện chức năng dân tộc tính: khẳng nhận tính phổ quát của cái nhìn trong thế giới của Jane Auten, chắc chắn khiến nước Anh là một nơi hết sức đặc biệt, đất nước của những chuẩn mực thẩm mỹ và hành vi, quan trọng hơn, chuẩn mực của những viễn cảnh đạo đức và hoàn cảnh xã hội mà từ đó, các vấn đề luân lý được thực thi và nhân cách được kiến tạo.

  (Còn tiếp).

Lê Minh Kha dịch từ  Literary Theory: A Very Short Introduction, Oxford University Press,1997; Reissue edition (June 15, 2000)

Leave a comment

Filed under Dịch thuật