Năm món quà của đời sống – Mark Twain

200px-Mark_Twain,_Brady-Handy_photo_portrait,_Feb_7,_1871,_cropped

LTS: Mark Twain (1835-1910) là nhà văn nổi tiếng người Mỹ với những sáng tác mang đậm tính chất châm biếm, trào phúng; với lối văn giễu nhại dựa trên sự quan sát sắc sảo, tinh tế bức tranh hiện thực đời sống.

Ngoài những tiểu thuyết đã hết sức phổ biến trên toàn thế giới như: Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn… Mark Twain còn là bậc thầy của thể loại truyện ngắn. Đặc biệt, trong số những sáng tác của ông, có rất nhiều truyện ngắn viết cho thiếu nhi dưới hình thức những ngụ ngôn hay truyện cổ tích.

Năm món quà của đời sống có thể được đọc như một truyện ngắn không chỉ dành cho trẻ em, mà dành cho tất cả những ai “đã từng là trẻ em”(Nguyễn Nhật Ánh).

1.

Vào buổi bình minh của cuộc đời, một nàng tiên nhân hậu dịu dàng xuất hiện. Nàng mang theo bên người một chiếc giỏ và bảo rằng: “Đây là những món quà. Hãy chọn lấy một phần quà và để lại những thứ khác. Hãy thận trọng để lựa chọn một cách thông minh nhất! Vì chỉ có một trong số chúng là có giá trị mà thôi”.

Những món quà ấy gồm năm thứ: Danh tiếng, Tình yêu, Giàu sang, Lạc thú, Cái chết. Chàng trẻ tuổi hăm hở trả lời:

“Chẳng cần phải nghĩ nhiều đâu, nàng ơi!”; và chàng chọn Lạc thú.

Rồi chàng vô tư bước vào dòng đời, theo đuổi những niềm vui mà tuổi trẻ mê mải. Nhưng bao lạc thú cũng chóng tàn và biến mất, ngày thêm hão huyền, vô nghĩa. Chúng lần lượt rời xa và chế nhạo chàng. Cuối cùng, chàng bảo: “Những năm tháng qua, ta đã phí hoài cho điều vô nghĩa. Nếu được chọn lại, ta sẽ lựa chọn sáng suốt hơn lần đầu”.

2.

Nàng tiên lại xuất hiện và nói với chàng:

“Bốn món quà vẫn còn đấy. Chàng hãy chọn thêm lần nữa. Và hãy nhớ là thời gian trôi đi rất nhanh, chỉ một trong số các món quà ấy là có giá trị”.

“Người đàn ông suy nghĩ rất lâu, và rồi, chàng chọn Tình yêu; không để ý đến những giọt lệ đang dâng đầy trong đôi mắt nàng tiên dịu dàng ấy.

Nhiều năm sau, người đàn ông ngồi bên cỗ quan tài trong ngôi nhà hoang lạnh. Và ông thì thầm: “Từng người tình đã bỏ ta ra đi. Giờ đây, là cả nàng, người tình cuối và cũng là người ta yêu thương nhất nằm xuống nơi này. Nỗi đơn côi vẫn liên tiếp lướt qua đời ta; những khoảnh khắc hạnh phúc mờ nhạt dần, hoang hoải. Tình yêu, ta đã trả cho ngươi biết bao sầu đau đắm đuối. Tự thâm tâm mình, ta muốn nguyền rủa ngươi”.

3.

“Chọn lại lần nữa đi.” Giọng nàng tiên đang thì thào bên tai chàng.

“Cuộc đời đã dạy ngươi sự thông thái, chắc chắn là như thế, sau bao nhiêu va vấp. Ba món quà hãy còn nguyên đấy. Chỉ có một thứ trong số chúng là đáng giá. Hãy nhớ điều đó và cẩn trọng lựa chọn”.

Người đàn ông nghiền ngẫm rất lâu và chọn Danh tiếng. Nàng tiên trút tiếng thở dài và bay đi mất.

Thời gian trôi đi, như bóng câu qua cửa. Rồi khi nàng tiên quay trở lại, đến nơi người đàn ông từng ngồi suy ngẫm một mình trong những ngày xưa cũ nhạt nhòa, nàng đã biết được những điều trăn trở, dằn vặt của riêng ông:

“Tên tuổi của ta vang khắp toàn cầu, được mọi người ca tụng, được nhắc đến cả nơi hang cùng ngõ hẻm. Với ta, trong một lúc nào đấy, điều đó thật tuyệt vời. Nhưng thời khắc ấy mới ngắn ngủi làm sao! Mà theo sau là bao đố kỵ, gièm pha, vu khống, ghen ghét, hãm hại. Rồi sự báng bổ là dấu hiệu khởi đầu cho những kết thúc, cho sự chôn vùi danh tiếng ảo vọng. Ôi! Sự nổi tiếng mới đắng cay và thống khổ biết bao nhiêu! Nó bị bức hại ở thời kỳ đầu và bị thương hại ngay lúc suy tàn”.

4.

“Chọn lại đi.” Nàng tiên lên tiếng với ông.

“Vẫn còn hai món quà. Và đừng sợ hãi. Một trong hai món có giá trị thực sự, và nó vẫn còn ở đây”.

“Sự Giàu sang- đây mới được xem là thứ uy quyền có thực trong cõi đời! Từ trước tới giờ, ta đã mù quáng làm sao!”, người đàn ông nói. “Và cuối cùng, cuộc đời này sẽ thật đáng sống đối với ta. Ta sẽ tiêu pha thật phóng khoáng. Những kẻ chế giễu và xem thường ta sẽ xách dép lẽo đẽo phía sau. Ta sẽ khiến chúng nổi điên vì ghen ăn tức ở. Ta sẽ có được những thứ xa xỉ, những thú vui, những trò chơi; đạt được tất cả sự thỏa mãn, đủ đầy về tinh thần lẫn vật chất mà bao người mơ ước. Ta sẽ mua tất cả! Sự tôn trọng, lòng hâm mộ, sự sùng kính- cả những cái ôm giả tạo mà đời sống bán buôn tầm thường vẫn đưa ra phía trước cho bao kiếp người. Ta đã lãng phí quá nhiều thì giờ, để chọn những thứ vớ vẩn trước đó. Song, hãy để chúng trôi đi không tăm tích. Cuối cùng, có vẻ như ta đã chọn lựa được điều tuyệt vời nhất”.

Ba năm trôi qua. Đến một ngày nọ, người đàn ông kia ngồi run lẩy bẩy nơi tầng áp mái tồi tàn. Trông ông gầy gò và hốc hác, nước da vàng vọt và mắt trũng sâu, áo quần rách nát. Ông đang nhai một mẩu bánh mì khô và lầm bầm:

“Ta nguyền rủa những món quà của cuộc đời này, tất cả chỉ là những thứ giả dối chết tiệt. Chúng lừa phỉnh tất thảy mọi người. Chúng không phải là những món quà, mà chỉ là sự vay mượn. Lạc thú, Tình yêu, Danh tiếng, Giàu sang: đấy là những thứ trá hình cho cái hiện thực có thật sau chót: Nỗi đau, Sự sầu muộn, Hổ thẹn và Nghèo đói.Nàng tiên đã nói đúng, trong chiếc giỏ của nàng, chỉ có một món quà mới đáng giá, chỉ có một món quà mới không vô giá trị. Ta mới nông cạn và ngu xuẩn làm sao khi so sánh những thứ kia với món quà vô giá đó. Cơ thể ta đã quá mỏi mệt, sự u sầu và nỗi hổ thẹn đang thiêu đốt tâm can ta. Hãy đem nó lại đây! Ta đã mệt lắm rồi. Ta muốn ngủ yên mãi mãi”.

5.

Nàng tiên đến, mang theo bốn món quà mà ông đã chọn, chỉ thiếu mỗi Cái chết . Nàng nói:

“Ta đem chiếc giỏ có chứa những món quà này đến cho đứa con yêu của một bà mẹ, một chú nhóc dễ thương. Nó không biết nhưng tin ta, nhờ ta lựa chọn cho nó. Ông chẳng hỏi ta gì cả khi ông lựa chọn những món quà”.

“Ôi, ta mới khốn khổ làm sao! Giờ còn lại cái gì cho ta đây?”

“Cái còn lại là cái mà ông thậm chí cũng không xứng đáng với nó: những nỗi buồn của Tuổi già”.

LÊ MINH KHA

(dịch từ The five boons of life)

Bài đã đăng Báo Bình Định

Leave a comment

Filed under Dịch thuật

Cơn bão – Kate Chopin

chopin

Khi nhắc đến những nhà văn có đóng góp lớn cho phong trào nữ quyền trên toàn thế giới, người ta không thể không nhắc đến Kate Chopin (1850-1904). Các truyện ngắn của nữ văn sĩ người Mỹ này thường được xem là những tuyên xưng về quyền con người, đặc biệt là quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội nam quyền. Truyện “Cơn bão” dưới đây rất tiêu biểu cho chiều sâu tư tưởng và tài năng nghệ thuật của cây bút nữ tài hoa, nhân hậu ấy.

1.

Những chiếc lá vẫn đứng lặng dù Bibi nghĩ rằng trời sắp mưa. Bobint, người đã quen chuyện trò bình đẳng với cậu con trai nhỏ, chỉ cho chú nhóc thấy đám mây xám đang cuộn dần lên từ phía trời tây, báo hiệu thời tiết xấu, theo sau đó là những tiếng ầm ầm đầy đe dọa. Họ đang ở cửa hàng nhà Friedheimer và sẽ tạm trú ở đấy, chờ cơn bão qua. Hai bố con ngồi phía trong cửa ra vào, trên hai cái thùng rỗng. Bibi đã được bốn tuổi và trông rất lanh lợi.

- “Chắc mẹ sẽ lo lắng lắm”, cậu bé nói, mắt chớp chớp.

- “Mẹ sẽ đóng cửa nhà. Có thể, tối nay mẹ sẽ nhờ Sylvie sang giúp”, Bobint trả lời, dỗ dành con.

- “Không! Mẹ sẽ không nhờ Sylvie. Cô ấy đã giúp mẹ vào ngày hôm qua”, Bibi gào to.

Bobint đứng dậy và bước đến quầy hàng mua một lon tôm đóng hộp mà Calixta rất thích. Rồi anh quay trở lại chỗ của mình và thản nhiên ngồi xuống, cầm lon đồ hộp, trong khi bão nổi. Bão làm lay chuyển cửa hàng lợp bằng gỗ và dường như xẻ từng đường rạch lớn trên cánh đồng ngoài xa. Bibi tựa cánh tay bé nhỏ của mình lên đầu gối bố, và không lo sợ nữa.

2.

Ở nhà, Calixta còn chưa cảm thấy lo lắng cho sự an toàn của hai bố con. Nàng ngồi một bên cửa sổ, mải miết đạp máy may. Nàng đang bận bịu và không để ý cơn bão đang tới. Tuy nhiên, nàng cảm thấy thời tiết rất oi bức và phải thường xuyên dừng may để lau mặt vì mồ hôi đọng lại thành hạt. Nàng nới lỏng cổ áo thụng màu trắng. Trời bắt đầu tối sầm lại, rồi khi bất chợt hiểu ra tình hình, nàng vội vã đứng bật dậy và chạy đi đóng các cửa sổ lẫn cửa chính.

Phía ngoài, trước hiên nhà, nàng phơi bộ quần áo mặc đi lễ của Bobint. Nàng vội vàng gom chúng lại trước khi trời mưa. Khi nàng bước ra ngoài, Alce Laballire đang cưỡi ngựa đứng trước cổng. Kể từ lúc lập gia đình, nàng rất hiếm khi nhìn thấy ông, và cũng chưa bao giờ ở nhà một mình. Nàng đứng đấy, tay cầm áo khoác của Bobint, và mưa bắt đầu rơi nặng hạt. Alce cưỡi ngựa đến chỗ trú, dưới mái hiên nhà kho, nơi đàn gà xúm xít và những cái cày, cái bừa chụm lại ở một góc.

- “Tôi có thể vào và đợi ngoài hiên cho đến khi bão qua, được không cô Calixta?”, ông nói.

- “Mời ông vào, thưa ông Alce!”.

Giọng nói của ông và ngay của chính bản thân khiến nàng giật mình như bị thôi miên, nàng nắm chặt chiếc áo gi-lê của Bobint. Alce bước lên hiên nhà, túm lấy cái quần và tấm áo vét viền vàng của bé Bibi sắp bị cơn gió mạnh thình lình thổi bay. Ông định chỉ đứng ngoài hiên, nhưng dĩ nhiên, như thế cũng có nghĩa là đứng ngoài trời: nước mưa dội mạnh trên sàn, và ông phải nép vào trong, khép bớt cửa lại. Thậm chí, phải chặn một cái gì đó ngay dưới cánh cửa để nước mưa khỏi bắn vào.

- “Chà! Mưa to quá! Có lẽ hai năm rồi mới có một trận mưa như thế này!”, Calixta thốt lên khi cuốn tấm vải đang may dở lại. Alce giúp nàng nhét chúng vào một góc.

Calixta trông có vẻ mập mạp hơn so với 5 năm trước, khi nàng mới lập gia đình; tuy nhiên, nàng vẫn giữ được vẻ đẹp rạng ngời. Đôi mắt xanh của nàng hãy còn gợi cảm, và mái tóc vàng rối bù vì mưa gió, bết chặt vào hai bên tai và sau gáy.

Mưa dội mạnh vào phía dưới mái lợp, với một lực rất mạnh, đe dọa làm tung cánh cổng và tràn vào trong nhà. Họ loanh quanh trong phòng ăn, rồi phòng khách và nhà bếp. Cạnh đấy là phòng ngủ của nàng, chiếc giường nhỏ của Bibi đặt sát cạnh giường của Calixta. Cửa phòng mở, trông rõ căn phòng với ánh sáng trắng mờ ảo của mấy chiếc giường, các cánh cửa chớp khép kín, khiến căn phòng trở nên mờ tối và ẩn mật hơn.

Alce thả mình xuống chiếc ghế gỗ và Calixta lúng túng thu gom các mẩu vải dưới nền nhà mà nàng đang may dở. “Nếu cứ mưa thế này thì mấy bờ đê ngoài kia, không biết có chống chọi nổi không!”, nàng lo lắng.

- “Cái gì khiến cô quan tâm đến mấy bờ đê ấy?”.

- “Tôi lo lắm chứ! Bobint và Bibi đang ở ngoài đó, họ sẽ gặp bão nếu như mới rời khỏi cửa hàng nhà Friedheimer!”.

- “Hãy hy vọng, Calixta à, Bobint dư hiểu biết để đối phó với những cơn lốc”.

Nàng đến gần và đứng bên cửa sổ với vẻ mặt lo lắng. Nàng lau khung cửa đã bị hơi nước làm mờ. Không khí bỗng trở nên ngột ngạt. Alce đến bên nàng, đưa mắt nhìn ngang qua vai nàng. Cơn mưa như trút nước, che khuất những ngôi nhà ở đằng xa và phủ lên chúng một màn sương xam xám. Sét đánh không ngừng. Một tia sét đánh trúng cái cây ngoài đồng, ánh sáng chói lòa và tiếng sấm rền vang dường như phủ lên nơi họ đang đứng.

Calixta lấy tay che mặt và nàng khóc, loạng choạng lui về sau. Alce vòng tay ôm nàng, và đột ngột kéo nàng gần mình hơn.

“Đừng!”, nàng khóc, vùng khỏi vòng tay ông và rời khỏi cửa sổ. “Ngôi nhà đó không biết sẽ như thế nào! Giá như tôi biết được Bibi đang ở đâu!”. Nàng không thể tự trấn tĩnh, cứ đứng ngồi không yên. Alce siết chặt bờ vai và nhìn vào khuôn mặt nàng. Cơ thể nàng ấm áp, đang run lên khi ông chạm vào nàng. Điều ấy đã đánh thức nơi ông niềm say mê và nỗi khát khao.

- “Calixta – ông nói – em đừng sợ! Sẽ không có gì xảy ra đâu em. Ngôi nhà ấy thấp lắm, lại có nhiều cây cao bao bọc, nó sẽ không bị gió lốc cuốn đi đâu. Thôi nào! Em bình tĩnh!”. Ông vuốt những lọn tóc khỏi khuôn mặt nàng ấm áp. Đôi môi nàng đỏ mọng và ẩm ướt như hạt lựu. Cổ nàng trắng ngần, và cơ thể nàng đầy đặn, quyến rũ ông. Khi nàng ngước nhìn ông, nỗi sợ trong đôi mắt xanh của nàng bỗng ánh lên, gợi cho ông khát khao nhục cảm. Ông nhìn vào đôi mắt ấy và chẳng thể làm gì khác hơn là hôn lên môi nàng. Nụ hôn ấy gợi lại trong ông kỷ niệm về Ngày lễ Đức mẹ lên trời.

- “Em có nhớ ngày lễ đó không, Calixta?”, ông nói bằng giọng thầm thì, run run xúc động. Đúng rồi! Nàng vẫn nhớ. Trong buổi lễ đó, ông đã hôn nàng cuồng nhiệt đến mức gần như mất cảm giác, và để giữ gìn cho nàng, ông đã bỏ đi trong sự tuyệt vọng, vì không muốn xâm phạm vào sự trắng trong, thuần khiết đó. Giờ đây, môi nàng, cả cơ thể nàng như gọi mời những yêu thương nơi ông.

Họ không còn để ý đến những cơn mưa đang trút xuống nữa, tiếng mưa đổ khiến nàng bật cười trong vòng tay ông. Niềm đam mê mãnh liệt của nàng, giống như một ngọn lửa xâm chiếm và tìm được sự đồng điệu nơi tâm hồn và cơ thể ông, như trước đó nàng chưa từng có.

Tiếng sấm rền xa và dần ngừng hẳn. Mưa rơi nhẹ nhàng trên mái nhà, đưa họ vào giấc ngủ mơ màng.

3.

Cơn mưa đã tạnh, và ánh mặt trời khiến cả vũ trụ thẳm xanh như một lâu đài dát ngọc. Calixta đứng ở hiên nhà, trông theo Alce cưỡi ngựa xa dần. Ông quay lại và mỉm cười với nàng bằng khuôn mặt rạng ngời; nàng ngẩng cao chiếc cằm xinh xắn và cười vang.

Bobint và Bibi, chậm rãi trở về nhà, ngừng lại ở bể nước và rửa ráy, chỉnh trang lại áo quần. Calixta đang chuẩn bị bữa tối. Nàng đã bày thức ăn ra bàn và pha cà phê trước lò sưởi. Nàng vui mừng nhảy cẫng lên khi hai bố con bước vào nhà.

- “Ôi, Bobint! Anh về rồi đây! Ôi, em mừng quá! Anh ở đâu trong khi trời bão thế. Còn Bibi nữa, con không ướt chứ, con không bị sao chứ?”. Nàng ôm chặt Bibi và hôn con thắm thiết. Những lời giải thích và xin lỗi mà Bobint đã chuẩn bị trên đường về cũng tan biến khi Calixta nhận thấy anh hoàn toàn không bị ướt, và rất hân hoan khi hai bố con về nhà an toàn.

Bobint và Bibi bắt đầu nghỉ ngơi, và khi cả ba ngồi vào bàn ăn, họ cười phá lên đến nỗi bất kỳ ai, dù ở xa như nhà của Laballire cũng nghe thấy.

4.

Tối hôm đó, Alce Laballire viết cho vợ mình một bức thư. Đó là một lá thư chan chứa tình cảm. Ông dặn bà không cần phải về vội, bà và các con có thể ở thêm một tháng nữa, nếu thích. Ông càng ngày càng thấy mọi thứ tốt lên, và dù ông rất nhớ họ, ông sẵn sàng chịu đựng sự xa cách này thêm thời gian nữa, ông cho rằng: sức khỏe và niềm vui của họ là điều quan trọng hơn hết thảy.

5.

Về phần Clarisse, bà rất vui mừng khi nhận được thư của chồng. Bà và các con đều khỏe. Cuộc sống ở đây rất thoải mái, nhiều bạn bè và người quen cũ của bà đang sống ở vịnh đảo này. Chuyến nghỉ mát đầu tiên kể từ khi bà lập gia đình khiến bà khôi phục lại cảm giác tự do như hồi còn son rỗi. Đời sống hôn nhân với người chồng là tất cả những gì mà bà tự nguyện dâng hiến.

Và rồi cơn bão qua. Tất cả mọi người đều hạnh phúc.

LÊ MINH KHA lược dịch từ nguyên bản tiếng Anh “The Storm”

Bài đã đăng Báo Bình Định

Leave a comment

Filed under Dịch thuật

Chàng Năm Mới bé nhỏ – Ellen Robena Field

Happy-New-Year-2014-Horse-Riding.jpg

Lời giới thiệu: Ellen Robena Field là nữ văn sĩ người Mỹ sống vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ 19. Những truyện ngắn của bà viết cho thiếu nhi trong sáng và đẹp như những câu chuyện cổ tích. Truyện “Chàng Năm Mới bé nhỏ” dưới đây lấy cảm hứng từ khoảnh khắc chuyển giao năm cũ – năm mới. Nó như một lời chúc, một ước nguyện tốt lành nhân ngày đầu năm.

………………………………………..

          Một buổi sớm trời lạnh, Maurice chờn tỉnh giấc mơ. Cậu nằm im trên giường và chăm chú dỏng tai nghe. Cậu nghĩ rằng mình nghe thấy tiếng gõ trên khung cửa sổ nhà mình, song mặt trăng hãy còn chiếu sáng và sương giá lạnh lẽo khiến Maurice không thể nhìn thấy gì phía ngoài ô cửa kính. Do đó, cậu ngái ngủ trườn mình ra khỏi giường và mở cửa sổ, rồi thì thầm: “Ai thế?”

          “Là tớ đây,” một giọng nói lanh lảnh đáp lời. “Tớ là chàng Năm Mới bé nhỏ đây. Và tớ đã hứa sẽ mang đến cho tất cả mọi người những điều tốt lành. Song, vì tớ quá bé nhỏ nên cần ai đó giúp mình phân phát những điều tốt đẹp đó. Tại sao cậu không ra đây và giúp tớ nhỉ?”

            “Ồ, Trời lạnh lắm!” Maurice nói; “tớ thích quay lại chiếc giường ấm áp kia hơn; “và cậu rùng mình trước sương giá vừa lướt ngang qua mình, chạm nhẹ dưới cằm cậu với những cái vuốt ve buốt lạnh.

             “Đừng quan tâm đến cái lạnh,” chàng Năm Mới thúc giục, “làm ơn giúp tớ với.”

          Và thế là Maurice nhanh chóng khoác lấy quần áo ấm, và lập tức chạy ra ngoài sân vườn. Tại đấy, cậu thấy một chàng trai có đôi má hồng hào, bé nhỏ hơn cả cậu nữa, đang kéo một cỗ xe lớn đầy ắp bao thứ tốt lành. Một bên của chiếc xe có vẽ chữ “Tình yêu”, còn bên kia là chữ “Lòng tốt”. Ngay khi chàng Năm mới gặp Maurice, chàng ta nói ngay, “Nào, xin cậu nắm lấy và đẩy xe cùng tớ;” rồi trên những con đường và lên những ngọn đồi, họ lướt ngang qua cho đến khi dừng lại ở một túp lều cũ kỹ.

          “Đây là nơi đầu tiên chúng ta đến,” chàng Năm Mới nói. Maurice ngạc nhiên nhìn sang chàng. “Vì sao lại thế? Không một ai sống ở đây cả, ngoài một cụ già đang giúp việc cho gia đình tớ; và ông ấy cũng chẳng có lấy một người con!”. “Ông ấy cần sự giúp đỡ của tớ,” chàng Năm Mới nói, “vì người già cũng muốn được quan tâm chăm sóc nhiều như trẻ nhỏ. Cậu dọn giúp phía trước cửa nhà ông ấy, còn tớ lấy những phần quà xuống. Và rồi, những bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt bắt tay vào việc; lấy xuống quần áo ấm, củi, và bữa ăn cho ngày năm mới, chàng Năm Mới cất tiếng hát trong khi tiến hành công việc:

“Ồ, tôi là chàng Năm Mới bé nhỏ/ Tôi vượt bao giá băng bão tuyết/ Rung chiếc chuông với tiếng mừng vui/ Hãy mở cửa nhà để đón tôi vào.”

          Cụ Joe già nua nghe tiếng động phía bên ngoài, vội vàng bước ra cửa, khi cụ nhìn thấy những món quà tuyệt vời, cụ đã xúc động đến rơi lệ; và rồi, cụ bê chúng vào nhà, cụ lẩm bẩm: “Đêm nay, Thượng đế có mặt ở đây.”

          “Bây giờ, chúng ta đi đâu?” Maurice hỏi, lúc họ đi xuống chân đồi. “Đem những bông hoa cho cô gái nhỏ nghèo khổ, ốm yếu,” chàng Năm Mới trả lời.

          Chẳng bao lâu, họ đến một ngôi nhà nhỏ màu trắng, nơi chàng Năm Mới dừng chân. “Bessie, cô gái may quần áo của chúng tớ sống ở đây” Maurice nói. “Tớ không biết cô ấy bị ốm.”

          “Nhìn này,” chàng Năm Mới nói, “cửa sổ mở hé; chúng ta hãy nhẹ nhàng ném bó hoa màu hồng này vào trong phòng. Nó sẽ khiến cô ấy cảm thấy hạnh phúc khi thức giấc, và cô sẽ vui thêm nhiều ngày nữa.”

          Rồi sau đó, họ lại đến một nơi khác, để lại sau lưng bao thứ tốt lành trên đường đi của mình. “Cỗ xe của cậu mới tuyệt vời làm sao, “ Maurice nói, “dù cậu đem cho đi rất nhiều thứ, nó dường như không bao giờ hết.” “Đúng rồi, Maurice à, tình yêu và sự tử tế chẳng bao giờ cạn cả. Chỉ cần tớ tìm được người đáng thương và đáng được đối xử tử tế, cỗ xe của tớ luôn đầy ắp những điều tốt lành dành cho họ; và nó sẽ không cạn cho đến khi tớ còn tìm thấy ai đó để giúp đỡ. Nếu cậu sẵn lòng đi cùng tớ mỗi ngày và giúp tớ phân phát những điều tốt lành đó, cậu sẽ luôn cảm thấy hạnh phúc.

          “Một năm mới hạnh phúc!” ai đó reo lên; và Maurice nhận thấy mình đang năm trên giường; chị gái của cậu đứng ở cửa phòng, mỉm cười với cậu: “Em trai! Em vừa trải qua một giấc mơ thật đẹp phải không?” – chị cậu hỏi.

“ Sao vậy nhỉ, chàng Năm Mới bé nhỏ đâu rồi?” Maurice nói, “chàng ta vừa ở đây với em mà.”

“Vào phòng của mẹ mà xem cậu ta đã cho em cái gì nè,” chị của cậu trả lời. Trong chiếc nôi màu trắng như tuyết, cậu thấy một đứa em bé xíu mới chào đời, món quà của chàng Năm Mới. Và rồi, Maurice hạnh phúc biết bao! Nhưng cậu không quên giấc mơ của mình. Cụ Joe già và chị Bessie cũng có quà, và Maurice luôn sốt sắng giúp đỡ mọi người khiến cho những người bạn của cậu vui mừng vì Năm Mới hạnh phúc đã đến.

                   Lê Minh Kha dịch từ nguyên tác The little New Year

Leave a comment

Filed under Dịch thuật

Những người hát trên đồi

33168606

 

1. Xuân về, đồi núi trải dài trong màu cỏ non êm mượt. Những tia nắng dịu dàng lang thang khắp những bờ suối mát lành và những triền đồi bazan đất đỏ. Thênh thang cái nắng, cái gió đại ngàn hòa lẫn trong những khúc hoan ca vui mùa xuân mới. Đó là nhịp đập mùa xuân đang lẫn vào tiếng cồng chiêng bập bùng, vào men rượu cần huyền thoại, để ngời lên trong những hòa sắc Tây Nguyên ân tình mà sâu lắng, ảo huyền.

          Trong những ngọn sóng cỏ xanh non rợn tới trời, nghe vang đâu đâu tiếng hát của núi rừng. Những người hát trên đồi, theo nhịp bước mùa xuân trở lại. Những đôi môi biết cười, những thanh âm vang vọng đại ngàn xa tắp. Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, và những lời ca thênh thang, theo mây ngang trời.

2. Thênh thang ta bước trên đồi/Chim muông hoa lá theo nhau lên tiếng(Gió bay trên đồi). Mùa xuân theo nhịp bước tim vui. Chân trần bước trên mảnh đất quen, mắt ngước nhìn khoảng trời xanh ngắt, hồn lâng lâng men rượu ngà say. Ngây ngất trong giây phút đi về giữa quên và nhớ. Lời ca của những người con Tây Nguyên cứ kéo dài một kiếp người, từ lễ thổi tai để truyền ký ức đến men rượu cần cho phút thoáng quên giữa dòng đời tất bật. Và đất trời cũng tụ hội trong những tiếng ca, những khuôn nhịp, những giai âm và bước chân gọi mời khát khao trở lại, tìm kiếm Địa đàng, vươn đến những miền đất bình yên, thanh lọc.

          Này những lời ca, cứ theo giọng hát Y Moan rạo rực hơi thở núi rừng trong Bài ca trên đồi: Lời của chàng Đam San đi tìm Nữ thần mặt trời/Lời của con tim nao nức thao thức cuộc đời…Hỡi em yêu dấu ơi/Nhớ thương anh vẫn chờ/Trên đồi cao anh hát những ngày bên nhau. Đất trời chùng chiềng theo lời ca. Và mùa xuân bỗng thêm xuân, cỏ cây cũng hồi sinh trở lại trong những lời yêu thương, trong hình bóng cuộc tình một ngày tìm về, gọi dậy bao khát khao.

          Đó là tiếng lòng của người đàn ông, của những chàng trai hát bài ca đi tìm Nữ thần mặt trời. Còn với người con gái, ấp e thiên tính nữ như bông hoa trinh nguyên, thuần khiết mà cháy bỏng, đó là khoảnh khắc lắng lòng dịu dàng trong một ngày xuân Lãng mạn trên đồi: Bồng bềnh gió cứ cuốn bồng bênh bay lang thang/Bồng bềnh em theo anh trôi hoài trôi mãi/Và ngày tháng cứ thế cuộc tình trong si mê/Bồng bềnh anh cho em tháng năm vỗ về.

          Mùa xuân cứ thênh thang theo tiếng ca, qua suối qua đèo. Những ngọn đồi tiếp nối, trong hơi xuân đất trời mở hội. Tình yêu – mối giao cảm tuyệt vời nhất giữa người và người cứ miên man, trải dài theo những ngọn đồi của núi rừng Tây Nguyên, như những vần thơ Tagore: Sương mù và Tình yêu/ Hai kẻ lãng du/Lang thang trên đồi.

          Nhưng tình yêu ấy, có lẽ còn mong manh hơn cả sương mù, cứ mê mải len lỏi vào từng nhành hoa, khóm lá theo bước thiên di của nắng và gió. Những rừng thông xanh, những hồ nước đầy, những vạt dã quỳ cuối mùa song vẫn tươi vàng hoang dại, những đôi mắt lúng liếng cười, như gọi về bao nhớ quên thuở trước. Tất cả, trong sắc xuân ngời lên, qua những bài ca, những khúc nhạc vui mà những người hát trên đồi đem lại cho đời sống và lòng người. Mấy ai không thinh lặng giây phút đắm mình trong những khúc ca ấy, và không thấy lòng lâng lâng những nỗi niềm riêng.

3. Đồi cỏ xanh mượt, vượt quá tầm mắt. Những khoảnh khắc chìm trong tiếng ca xuân thì hãy còn vang vọng mãi. Kìa tia nắng mới mở ra khoảng không gian dịu mát, bình yên Tây Nguyên.

          Này em có nhớ? Những tia nắng báo hiệu một ngày xuân mới, xôn xao ngang qua ô cửa với cái khẽ khàng se lạnh mỗi độ xuân về. Màu nhạt của nắng hòa cùng chút bảng lảng của buổi sớm trong lành, và những giọt sương chừng như cũng đang cựa mình thức giấc. Tất cả hòa nhịp trong khúc hoan ca của phố núi khi Tết đến, ngày gọi mùa sang.

          Phải thức trọn các giác quan mới cảm nhận đủ đầy cái màu nắng mới ấy. Trong những tia nắng, có sắc màu của những bình minh dịu êm, có cả hương thơm của những cánh hoa nở rộ mỗi độ vào xuân. Nắng còn mang theo mình cái ngọt ngào như một lời ru của mẹ, như một vòng tay đưa nôi chập chờn giây phút tuổi thơ. Và như sự tương giao cảm giác trong thơ Baudelaire: Các âm thanh, màu sắc và mùi hương hô ứng với nhau. Nắng mới hòa hợp trong khoảnh khắc lắng lòng để nghe nhịp thở của đất trời và nhịp đập của trái tim mình.

          Mùa xuân, những người hát trên đồi. Hát cho những màu sắc, âm thanh và mùi hương tụ hội. Hát cho những bình minh hé mở, những mầm non cựa quậy, những yêu thương theo cánh gió đi về…

                                                                                                              Lê Minh Kha

Leave a comment

Filed under Tản văn

Một sớm Giáng sinh – Pearl S. Buck

752px-Gerard_van_Honthorst_001

Anh giật mình tỉnh giấc. Bây giờ đã 4 giờ sáng, thời điểm mà bố hay gọi anh dậy để giúp ông vắt sữa. Thật lạ! Thói quen từ thời trẻ vẫn cứ bám lấy anh dai dẳng như 15 năm trước. Bố anh đã mất cách đây đúng 13 năm, vậy mà anh vẫn giật mình thức dậy vào mỗi 4 giờ sáng. Anh cố tự ru mình ngủ lại, nhưng sáng hôm nay là ngày Giáng sinh, không việc gì anh phải ráng ngủ.

Vì sao đêm qua anh trằn trọc, thao thức? Anh hồi nhớ lại ngày xưa – việc mà thời gian này, anh thực hiện khá thuần thục. Khi đó, anh chỉ là cậu bé 15 tuổi và sống ở trang trại của bố. Anh rất yêu thương bố. Anh không hề nhận ra điều đó cho đến vài hôm trước ngày Giáng sinh, khi anh nghe lỏm được điều bố nói với mẹ: “Mary này, anh rất ghét phải gọi thằng Rob dậy vào mỗi buổi sáng. Nó lớn nhanh như thổi và cần phải ngủ cho đủ giấc. Giá em nhìn thấy con mình ngủ say như thế nào khi anh bước vào và đánh thức nó! Anh ước gì được để yên cho nó ngủ tiếp”.

“Anh không thể làm thế, Adam à – mẹ anh thốt lên – Hơn nữa, nó cũng không còn nhỏ nữa. Nó phải đỡ đần việc nhà”. “Ừ. Nhưng anh thật sự không thích khi phải đánh thức thằng bé”, bố anh chậm rãi.

Khi anh nghe những lời ấy, có điều gì đó mách bảo anh rằng: bố anh rất mực thương yêu anh! Trước đây, anh chưa bao giờ nghĩ đến điều đó, chưa quan tâm đúng mức đến sự gắn kết máu mủ giữa họ. Bố hay mẹ anh cũng chưa bao giờ trực tiếp nói về tình thương con – họ không có thời gian để làm việc đó. Họ luôn tất bật với công việc ở trang trại.

Và giờ, anh biết bố rất thương mình. Sẽ không còn có chuyện chậm chạp, lề mề vào mỗi buổi sáng, để bị bố gọi thêm nhiều lần nữa. Anh bật dậy ngay sau tiếng gọi đầu tiên, mặc vội quần áo, mắt vẫn khép hờ, nhưng tỉnh giấc hẳn.

Rồi sau đó, vào đêm trước ngày Giáng sinh năm anh 15 tuổi, anh nằm trên giường vài phút để nghĩ ngợi về cái ngày sắp đến. Gia đình anh rất nghèo, và toàn bộ niềm vui của cả nhà chỉ là con gà tây mà họ tự nuôi lấy cùng với những chiếc bánh nhân thịt băm mà mẹ anh làm. Mấy người chị của anh tự làm những món quà, còn bố mẹ luôn mua cho anh những thứ anh thích, không chỉ là chiếc áo ấm, mà còn có những món đồ khác, chẳng hạn, một cuốn sách.

Anh ao ước Giáng sinh này, khi anh tròn 15 tuổi, anh sẽ mua được một món quà thú vị hơn cho bố của mình. Như thường lệ, anh đến cửa hàng bình dân và mua một chiếc cà-vạt. Mọi thứ dường như ổn thỏa cho đến khi anh nằm nghĩ ngợi vào đêm hôm trước ngày Giáng sinh. Anh trông ra cửa sổ trên gác, những ngôi sao đang lấp lánh.

Hồi nhỏ, có lần anh đã hỏi bố: “Bố ơi! Chuồng rơm là gì hở bố?”. “Nó là cái chuồng, à, cũng gần giống như cái chuồng nhà mình đó con”, bố anh trả lời.

Và Chúa đã ra đời trong máng cỏ hang lừa, và những mục đồng đã tới…

Suy nghĩ ấy lay động anh như một ánh chớp. Tại sao anh không tặng bố một món quà thật đặc biệt, ngay ngoài kia, nơi chuồng nuôi bò sữa của nhà mình? Anh có thể thức dậy thật sớm, sớm hơn 4 giờ sáng, rón rén leo vào chuồng và vắt sữa bò. Anh sẽ làm việc ấy một mình, vắt sữa và lau dọn thật sạch, rồi khi bố anh đi vắt sữa, ông sẽ thấy mọi thứ đã đâu vào đấy. Ông sẽ biết ai làm việc đó. Anh cười phá lên khi ngắm nhìn những vì sao. Đấy là việc anh sẽ làm. Và anh không được phép ngủ say.

Anh chập chờn thức giấc đến hai mươi lần, với tay lấy chiếc đồng hồ cũ kỹ để xem giờ – nửa đêm, một giờ rưỡi rồi hai giờ. Đến ba giờ kém mười lăm, anh bật dậy và mặc quần áo. Anh rón rén bước xuống cầu thang, cố không làm tấm ván phát ra tiếng cót két, rồi bước hẳn ra ngoài. Những chú bò nhìn anh, lim dim và kinh ngạc. Với chúng, lúc này cũng là quá sớm.

Trước đây, anh chưa từng vắt sữa một mình, nhưng điều này cũng có gì là trở ngại. Anh cứ mãi nghĩ về sự ngạc nhiên của bố. Bố anh sẽ đến bên giường và gọi anh dậy, nói là họ phải đi vắt sữa trong khi Rob khoác vội quần áo. Ông sẽ ra chuồng bò, mở cửa và lấy đầy hai thùng sữa. Nhưng chúng không còn là những cái thùng trống không nữa, chúng đã đầy ắp và được đặt ngay ngắn ở nhà kho.

“Ôi, cái này là…”, anh có thể nghe thấy tiếng bố thốt lên. Anh mỉm cười và vắt sữa đều đều, những dòng sữa chảy mạnh vào thùng, sủi bọt thơm phức.

Công việc trở nên dễ dàng hơn anh từng nghĩ. Vắt sữa bò cũng không phải là việc chán phèo. Nó là một điều gì khác, một món quà tặng bố – người mà anh yêu quý. Anh làm xong công việc, hai thùng sữa đầy tràn, anh đậy lại và đóng cửa nhà kho thật cẩn thận, cài then thật kỹ. Quay trở về phòng, anh chỉ còn một phút để thay quần áo trong bóng tối và leo ngay lên giường thì nghe tiếng bố anh lịch kịch thức giấc. Anh lấy chăn đắp kín đầu để kiềm lại nhịp thở gấp của mình. Rồi cánh cửa phòng anh hé mở.

“Rob ơi! Chúng ta phải dậy thôi, con trai, cho dù hôm nay là ngày Giáng sinh”, bố anh gọi. “Dạ…”, anh vừa nói vừa ngái ngủ. Cánh cửa phòng khép lại và anh vẫn nằm trên giường, tự cười một mình. Chỉ vài phút nữa thôi, bố anh sẽ biết mọi thứ. Tim anh như muốn nhảy khỏi lồng ngực.

Thời khắc ấy như kéo dài bất tận. 10, 15 phút, anh cũng không còn rõ là bao lâu nữa, và anh lại nghe thấy tiếng bước chân của bố. Cửa phòng mở và anh vẫn nằm im.

Pearl S. Buck (1892-1973) – nữ văn sĩ người Mỹ đoạt giải Nobel Văn học năm 1938 – là một trong những bậc thầy trong việc khắc họa chân thực bức tranh đời sống và thế giới tâm trạng của con người. Ngoài công việc của một nhà văn, bà còn được xem là một nhà hoạt động xã hội tích cực, là cầu nối giữa hai nền văn hóa Đông – Tây.

Tác phẩm của Pearl S. Buck chứa chan màu sắc nhân văn. Từ những trang viết của bà, tình yêu thương đã vỗ cánh, hát khúc hoan ca và đập những nhịp đập đầy khao khát… “Một sớm Giáng sinh” (Christmas Day in the Morning) tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn của nữ văn sĩ này.

“Rob!”. “Dạ, con đây bố”. Bố anh đang cười. Tiếng cười như có gì thổn thức lạ thường. “Mày đùa với bố, phải không con?”. Bố anh đứng cạnh giường, cảm động, kéo tấm chăn cho cậu con trai. “Đó là quà Giáng sinh cho bố đấy, bố ạ!”.

Bố cúi xuống ôm chặt anh. Anh cảm nhận vòng tay của bố choàng quanh người mình. Trời còn tối mịt và họ không thể nhìn thấy mặt nhau. “Con trai, cảm ơn con. Chưa có ai làm được điều gì ý nghĩa như vậy…”. “Thôi mà bố, con chỉ muốn bố biết… chỉ muốn bố biết rằng…!”. Ngôn ngữ vượt ngoài tầm kiểm soát của lý trí. Anh chẳng còn biết mình nói gì nữa. Trái tim anh tràn ngập tình thương yêu.

Anh thức dậy và mặc lại quần áo. Họ cùng nhau bước xuống thang gác và đến bên cây thông Giáng sinh. Và tuyệt vời thay Giáng sinh! Trái tim anh gần như lại vỡ ra vì thẹn thùng và tự hào khi bố kể lại với mẹ và nói với mấy đứa em rằng anh Rob đã tự mình thức dậy như thế nào.

“Đó là món quà Giáng sinh tuyệt nhất mà bố từng có, và con trai à, bố sẽ mãi nhớ về nó, mỗi buổi sáng Giáng sinh hàng năm khi bố còn sống trên đời này”. Cả bố và anh đều nhớ điều đó, và giờ bố đã qua đời, chỉ còn mình anh nhớ rằng: vào lúc tờ mờ của sáng Giáng sinh linh thánh, một mình ở chuồng bò sữa của gia đình, anh đã hoàn tất món quà đầu tiên của tình thương yêu chân thành.

Giáng sinh này, anh muốn viết một tấm thiệp cho người vợ của mình và nói rằng anh yêu nàng biết bao nhiêu. Đã lâu rồi anh chưa nói điều đó, dù anh yêu nàng theo cách rất đặc biệt, nhiều hơn họ đã từng khi mười chín đôi mươi. Anh cảm thấy thật hạnh phúc vì nàng luôn yêu thương anh. À, đó là niềm vui thật sự của cõi đời này, đó là khả năng yêu thương. Tình yêu vẫn luôn hiện hữu trong anh. Nó tình cờ nhóm lên trong anh khi anh nhận ra bố yêu thương mình. Vậy là: Tình yêu có thể đánh thức tình yêu. Và anh có thể gửi tặng món quà tình yêu ấy mãi mãi. Buổi sáng ngày Giáng sinh này, anh sẽ gửi nó cho người vợ yêu dấu. Anh sẽ lại viết cho nàng những bức thư tình để nàng đọc và lưu giữ. Anh đến bên bàn làm việc và viết những dòng thương mến: Tình yêu thắm thiết của đời anh…

Thật là một Giáng sinh, một Giáng sinh an lành!

LÊ MINH KHA dịch từ “Christmas Day in the Morning”

Bài đã đăng Kiến thức ngày nay, số 842

Leave a comment

Filed under Dịch thuật

Lý luận văn học- Dẫn nhập ngắn – Jonathan Culler – P.16

tải xuống

Những thuộc tính chống lại những hệ quả

          Ở mỗi trường hợp trong năm đặc trưng trên, ta bắt gặp bố cục tôi từng  nhắc đến: chúng ta bàn về cái có thể trình bày như thuộc tính của các tác phẩm văn học, những đặc trưng chứng tỏ chúng là văn học, nhưng cũng bàn về cái có thể được coi là những hệ quả của một dạng thức quan tâm đặc thù nào đấy, một chức năng ta ban cho ngôn ngữ trong sự nhận thức nó là văn học. Dường như, mỗi cách nhìn cũng không thể gói tròn cách nhìn khác để tạo nên cách nhìn toàn diện. Những đặc tính của văn học không thể bị quy giản thành những thuộc tính khách quan hay những hệ quả của sự trình bày ngôn ngữ. Điều này có một nguyên nhân cơ bản, vốn đã xuất hiện trong vài thể nghiệm suy tư ở phần đầu của chương này. Ngôn ngữ chống lại những cấu trúc mà ta áp đặt. Thật khó để đưa cặp câu: “Chúng tôi xoay vòng tròn …” thành lời đoán vận của chiếc bánh cầu phúc Trung Hoa hay “Khuấy mạnh” vào một bài thơ cảm động. Khi ta xem xét cái gì đó như là văn học, khi ta tìm kiếm khuôn mẫu và sự mạch lạc, luôn có sự kháng cự ngay trong ngôn ngữ; ta phải làm việc với nó, làm việc cùng nó. Rốt cuộc, “tính văn chương” của văn học có thể nằm trong độ căng của sự tương tác giữa chất liệu ngôn ngữ và những mong đợi thông thường của người đọc về bản thân văn học. Tuy nhiên, tôi nói điều này với sự cẩn trọng, vì những điều khác ta đã biết qua năm trường hợp, từng đặc điểm được xác nhận như một đặc trưng quan trọng của văn chương, song không chuyển hóa thành đặc trưng khu biệt, bởi nó có thể được tìm thấy ở sản phẩm qua những sự vận dụng ngôn ngữ khác.

Những chức năng của văn học

          Tôi bắt đầu chương này bằng lưu ý rằng: lý luận văn học trong những  năm 80 và 90 không chuyên chú vào sự khác biệt giữa những tác phẩm văn học và phi văn học. Điều những nhà lý luận làm, là để suy ngẫm về văn học như một phạm trù ý thức hệ và lịch sử, suy ngẫm về những chức năng chính trị và xã hội mà cái gọi là “văn học” được nghĩ là sẽ thực hiện. Thế kỷ 19, ở nước Anh, văn học nổi lên như một ý niệm vô cùng quan trọng, một dạng thức viết lách đặc biệt chuyên chở một vài chức năng. Đóng vai trò chủ thể cho sự truyền bá ở các thuộc địa của Đế quốc Anh, nó được giao nhiệm vụ mang đến cho người bản xứ những tuyên xưng về sự vĩ đại của Anh quốc và biến họ trở thành những kẻ chịu ơn trong sự nghiệp khai hóa lịch sử. Ở trong nước, nó sẽ chống lại thói ích kỷ và sự coi trọng vật chất vốn được nền kinh tế tư bản mới cổ vũ, nó cung cấp cho tầng lớp trung lưu và quý tộc những giá trị thay thế và đem đến cho người lao động quyền lợi văn hóa – cái thiết yếu chuyển họ xuống địa vị phụ thuộc. Nó sẽ cùng lúc rao giảng những tuyên xưng nhạt nhẽo, cung cấp ý thức về sự vĩ đại dân tộc, tạo nên sự thông cảm giữa các giai tầng, và cuối cùng, thực hiện chức năng như sự thay thế cho tôn giáo, thứ dường như không còn khả năng gắn kết xã hội.

          Bất kỳ tập hợp văn bản nào có thể thực hiện những điều đó, hiển nhiên là rất đặc biệt. Điều gì của văn học được xem làm được tất cả việc này? Nó là thứ, về cơ bản  là một khuôn thức đặc biệt vận hành trong văn học. Một tác phẩm văn học – chẳng hạn, Hamlet – có đặc trưng là câu chuyện về một nhân vật tưởng tượng: nó thể hiện mình theo những mẫu thức nào đó (lý giải tại sao bạn đọc nó theo nhiều cách khác nhau), nhưng đồng thời, nó chối từ xác định lĩnh vực hay phạm vi của mẫu thức đó – điều này dẫn đến sự thoải mái, giúp người đọc và các nhà phê bình nói về “tính toàn thể” của văn học. Cấu trúc của các tác phẩm văn học như thế, nhìn chung, dễ khiến ta tiếp nhận chúng như nói về “nhân sinh” hơn là chỉ rõ những phạm trù hẹp chúng miêu tả hay giải thích. Phải chăng Hamlet chỉ nói về những hoàng tử, hoặc những con người thời Phục hưng, hoặc những người trẻ sống nội tâm, hay những kẻ mà cha chết trong hoàn cảnh khó hiểu? Vì dường như, tất cả những câu trả lời như thế đều không thỏa mãn, nên tốt hơn, người đọc không trả lời, bằng cách đó, tiếp nhận hoàn toàn khả năng của tính phổ quát. Theo đặc trưng của chúng, các tiểu thuyết, bài thơ và vở kịch chối từ sự thăm dò chúng thuộc mẫu thức gì, đồng thời, chúng mời gọi tất cả người đọc để tâm vào những tình thế khó xử và suy nghĩ của người trần thuật cũng như các nhân vật.

          Nhưng sự kết hợp của yêu cầu về tính phổ quát và việc hướng đến tất cả những ai có thể đọc, ắt phải đi kèm một chức năng dân tộc tính mạnh mẽ. Trong Những cộng đồng tưởng tượng: Những suy ngẫm về nguồn gốc và sự truyền bá của chủ nghĩa dân tộc – một tác phẩm về lịch sử chính trị có ảnh hưởng với tư cách lý luận, Benedict Anderson biện giải rằng: những tác phẩm văn học ấy – đặc biệt là các tiểu thuyết – góp phần tạo nên những cộng đồng dân tộc bằng những yêu cầu và khẩn khoản của chúng đối với một cộng đồng người đọc rộng lớn, hình thành những giới hạn, tuy nhiên, về nguyên tắc, mở ngỏ với tất cả những người biết đọc. Anderson viết, “hư cấu lặng lẽ và liên tục thẩm thấu vào hiện thực, tạo nên sự tin tưởng đáng kể của cộng đồng vào trạng thái mờ ẩn, vốn là dấu hiệu của những quốc gia hiện đại”. Thể hiện các nhân vật, người kể chuyện, cốt truyện, chủ đề của văn học Anh trong tư cách cái phổ quát là nhắm đến việc thúc đẩy một cộng đồng tưởng tượng tuy mở nhưng lại giới hạn với những chủ thể ở các thuộc địa Anh, chẳng hạn, gợi lên những khao khát. Thực ra, khi tính phổ quát của văn học càng được nhấn mạnh, nó càng thể hiện chức năng dân tộc tính: khẳng nhận tính phổ quát của cái nhìn trong thế giới của Jane Auten, chắc chắn khiến nước Anh là một nơi hết sức đặc biệt, đất nước của những chuẩn mực thẩm mỹ và hành vi, quan trọng hơn, chuẩn mực của những viễn cảnh đạo đức và hoàn cảnh xã hội mà từ đó, các vấn đề luân lý được thực thi và nhân cách được kiến tạo.

  (Còn tiếp).

Lê Minh Kha dịch từ  Literary Theory: A Very Short Introduction, Oxford University Press,1997; Reissue edition (June 15, 2000)

Leave a comment

Filed under Dịch thuật

Những con ruồi trên bệ cửa sổ – Alice Munro

665545

Lời giới thiệu: Giải thưởng Nobel Văn học năm 2013 đã thuộc về Alice Munro – nữ văn sĩ người Canada. Bà được Viện Hàn lâm Thụy Điển suy tôn là “bậc thầy của truyện ngắn đương đại”. Các tác phẩm của Alice Munro thường tập trung vào những vấn đề của đời sống xã hội với bao biến thiên, thay đổi trong tâm hồn con người khi đối diện với những bước chuyển của văn hóa và lịch sử. Trên phương diện nghệ thuật, bà nổi tiếng với việc tạo dựng những chi tiết chân thực, với khả năng phân tích tâm lý sắc sảo và những kết thúc bất ngờ.

Trước khi được vinh danh cùng giải Nobel, nữ sĩ Alice Munro đã giành được nhiều giải thưởng văn chương quan trọng khác, như giải Man Booker International (2009), giải Governor General của Canada…

…………………………..

Nàng tựa mình trên chiếc ghế dựa cũ kỹ trong căn phòng kính của nhà nàng. Nàng không định đi ngủ. Bây giờ đang là một buổi chiều cuối thu đẹp đẽ, thanh bình – ngày diễn ra cuộc tranh tài Grey Cup, mà nhẽ ra nàng sẽ tham dự tiệc tùng với mấy người bạn, và cùng theo dõi trận đấu qua truyền hình. Vào phút cuối, nàng đã lấy lý do để được ở nhà. Mọi người cũng đã bắt đầu quen với cách xử sự này của nàng, mặc dầu vài người vẫn tỏ ra lo lắng. Nhưng nếu nàng góp mặt, thói quen và nhu cầu khẳng định mình luôn biến nàng thành linh hồn của buổi tiệc. Vì thế, mọi người cũng chẳng lo ngại gì nhiều.

Những đứa con nói với nàng, hy vọng nàng không sống trong quá khứ.

Nhưng nàng tin rằng: điều mình đang làm, điều mình muốn làm, nếu có thời gian, không phải là sống trong quá khứ mà là mở cánh cửa quá khứ để nhìn sâu nào nó, thấu hiểu về nó.

Nàng dần dần thiếp đi trong nắng chiều, và nàng nhận thấy mình đang bước vào một căn phòng nào đó xa lạ. Căn phòng kính, rực sáng, chìm khuất vào một hành lang tăm tối. Chìa khóa gắn ở cửa phòng, nàng nghĩ rằng chìa khóa luôn được gắn như thế, dù việc này, nàng chưa bao giờ gặp trong đời thực.

Đó là một phòng trọ tồi tàn, một căn phòng dành cho những người khách nghèo túng, khổ sở. Một chiếc đèn trần, mấy cái móc áo làm bằng kẽm, một tấm vải hoa màu hồng chen lẫn màu vàng có thể kéo qua lại, che phủ nơi phơi quần áo. Tấm vải hoa có lẽ là để mang đến cho căn phòng chút sinh khí, nhưng kỳ thực, nó có tác động ngược lại.

Nàng nhận ra Ollie – chồng của nàng, Ollie đang nằm trên giường. Mới đây, chàng và nàng đã dong ruổi khắp mọi miền bằng xe hơi, và chỉ mình chàng cầm lái trong những chuyến lưu diễn ấy. Với cái nóng bức và bụi bậm của ngày hôm này, người chàng mệt mỏi, rã rời. Nàng không biết lái xe. Nàng đang lịch kịch mở những chiếc tủ đựng áo quần, và đi tắm. Khi nàng bước ra, chàng đang ngái ngủ, nhưng qua khe mắt nhắm hờ, chàng thấy nàng đang tự ngắm mình trước tấm gương gắn ở tủ áo quần, cái gương lấm tấm những vệt đen ở những chỗ mà lớp tráng thủy ở mặt sau bong đi. Nàng mặc một chiếc váy satin màu vàng, một cái khăn quàng màu đen có in hình hoa hồng. Trang phục được may theo ý nàng, nhưng chẳng hề tôn lên vóc dáng của người mặc. Da mặt nàng đã được đánh phấn, nhưng vẫn thiếu sinh khí. Những lọn tóc được kẹp và xịt keo, cứ như một cái mũ nằm bẹp dí trên đầu. Đuôi mắt chằng chịt những nếp nhăn, mí mắt sụp, trông buồn ảo não. Có thể nói, toàn bộ cơ thể nàng như bị kéo xuống bởi sức nặng của mớ áo quần, tóc tai và son phấn.

Nàng đến bên giường, cúi xuống và cởi giày cho chàng. Chàng bảo nàng không cần phải làm thế. “Anh chuẩn bị phải đi đây! – chàng nói – Anh phải đến gặp họ”.

Nàng chẳng nói gì, nàng đứng trước gương và tự ngắm mình, với lớp y phục rườm rà và bộ tóc giả. Tâm hồn nàng trĩu nặng, nàng bước quanh phòng như định làm một điều gì đó, nhưng rồi chẳng biết phải làm gì.

Ngay khi cúi xuống định cởi giày cho Ollie, nàng cũng không nhìn mặt chàng. Và chàng nhắm nghiền mắt để tránh nhìn thấy mặt nàng. Họ đã trở thành những diễn viên chuyên nghiệp, họ cùng ăn, cùng ngủ, cùng ở bên nhau. Thế nhưng, trừ những lúc trước đôi mắt của khán giả, họ chưa bao giờ dám nhìn lâu vào mắt nhau. Họ sợ phải nhận ra một điều gì đó khủng khiếp.

Tủ quần áo với tấm gương loang lổ được kê sát tường – che một phần cửa sổ, khiến ánh sáng bên ngoài bớt lọt vào phòng. Nàng tỏ ra nghi ngại trong chốc lát rồi gắng hết sức nhích một góc tủ dịch chuyển sang bên vài tấc. Nàng nín thở vén tấm màn đầy bụi lên, chợt thấy, ở phía xa nhất của bệ cửa sổ, vốn bị che khuất bởi màn cửa và tủ quần áo, là một đống ruồi.

Ai đó từng sống trong căn phòng này, đã tiêu khiển bằng cách giết những con ruồi, rồi nhặt xác chúng, chất thành đống, bỏ trong hốc cửa sổ này. Nàng kêu lên khi nhìn thấy chúng, không phải vì hốt hoảng mà vì ngạc nhiên, thích thú. Thật lạ! Những xác ruồi khiến nàng cảm thấy vui, giống như đó là châu ngọc dưới kính hiển vi, những sắc màu lấp lánh, cánh mỏng như voan. Nàng gào lên, nhưng không phải vì nàng thấy những con ruồi ở bệ cửa. Mà vì nàng không có kính hiển vi, và những con ruồi đã mất đi màu sắc óng ánh của mình khi chúng chết. Những thân thể nhỏ bé, lộn xộn của lũ ruồi hòa trộn vào nhau nơi góc kẹt. Nàng có cảm giác sẽ nhìn thấy chúng ngay khi nàng đặt tay lên tủ áo hay vén tấm màn.

Nàng đã làm Ollie tỉnh ngủ, đánh thức chàng. “Việc gì thế?”, chàng làu bàu. “Em bị ong đốt à?”. “Không!”, nàng nói, chỉ tay vào lũ ruồi. “Em biết chúng nằm ở đó”.

Ollie ngay lập tức hiểu ra ý nghĩa của việc ấy đối với nàng, niềm vui của nàng, mặc dầu chàng không thể hòa cùng vào niềm vui ấy. Giờ đây, chàng chỉ quan tâm mỗi một điều, là làm thế nào cho những lần diễn xuất của chàng và nàng thành công.

“Em biết vào lúc nào?”.

“Khi em nhìn vào trong gương. Khi em nhìn cửa sổ. Em cũng không biết lúc nào nữa”.

Nàng vui sướng, giọng nói trong trẻo, đôi mắt long lanh như bao lớp bụi trần đã được tẩy rửa. Nàng với tay ôm quàng cổ chàng và tựa đầu sát ngực chàng, khiến những giấy tờ bỏ trong túi áo của chàng kêu sột soạt.

Đây là những giấy tờ bí mật mà chàng có được từ một bác sĩ nổi danh – một người mà chàng gặp trong cái thành phố này, chuyên về chăm sóc sức khỏe cho những người nghệ sĩ phải lưu diễn dài ngày. Chàng bảo với vị bác sĩ ấy chàng rất lo lắng về tình trạng tâm lý của nàng – người có thể nằm bẹp trên giường nhìn trần nhà hàng tiếng đồng hồ mà không lộ vẻ đói khát, người nhiều ngày có thể không nói một lời (trừ khi phải biểu diễn trên sân khấu). Nàng không phải là một người bình thường, nàng là một người độc đáo, sống với người độc đáo có thể sẽ hết sức căng thẳng. Nàng đã từng bị bệnh động kinh, và sẽ như thế nào nếu những cơn động kinh ấy quay trở lại. Bác sĩ hiểu chuyện này và đã chỉ cho chàng một nơi để đưa nàng đến điều trị, an dưỡng tinh thần.

Chàng không muốn nói cho nàng biết việc này. Quả tình, nàng cũng đã cảm nhận một điều gì đấy, nhưng nàng không muốn biết.

Nàng tin rằng, họ có thể làm những điều khác với việc này, họ có thể cùng sống một cuộc đời khác. Còn chàng, chàng sẽ quên phắt cái ý nghĩ đưa nàng vào trại an dưỡng, quên phắt mớ giấy tờ vớ vẩn đó.

Nàng cảm thấy tất thảy những hiểm họa tan biến theo những tiếng sột soạt khẽ khàng dưới gò má nàng.

Dường như, một người nào đó, trầm tĩnh và quả quyết, đã đưa nàng ra khỏi căn phòng ấy – căn phòng với những móc áo bằng kẽm và tấm vải hoa. Dịu dàng, đưa nàng ra khỏi những mệt mỏi, đau khổ của cuộc đời, như xuyên qua bao lớp bồ hóng đen tuyền, qua bao lớp tro tàn mong manh, để trở về với những nguồn sáng tươi vui, trong trẻo, thuần khiết.

LÊ MINH KHA lược dịch từ “Flies on the windowsill”

Bài đã đăng Báo Bình Định http://baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=18&macmp=20&mabb=11463

Leave a comment

Filed under Dịch thuật